Vùng đất Tân Châu – Phong vật một thời

705 views
Nội dung

Bài viết được tổng hợp từ sách Tân Châu xưa của tác giả Phan Văn Kiểm và Huỳnh Minh. Sách được số hóa bởi cộng đồng tv4u.org. Có thể tải ebook tại đây

I. Tìm hiểu danh từ Tân Châu

Sau một thời gian dài cả trăm năm của cuộc Nam tiến, người Việt đã chiếm được toàn cõi Thủy Chân Lạp (tức Nam Kỳ, nay Nam Việt). Và ngày cuối cùng của cuộc Nam tiến (từ Bà Lị, Bà Rịa trở vô) đúng vào năm Đinh Sửu 1757 (Thế Tổ Hiếu Võ Hoàng Đế năm thứ 19). Các nơi khác ở miền Nam như Hà Tiên, Tầm Bôn, Lôi Lập… tuy ta đã chiếm được, nhưng có vùng Thất Sơn 1 và đất Tầm Phong Long gồm toàn cõi Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc thì vì có thế hiểm của vùng Thất Sơn, người Chân Lạp còn chiếm mãi. Mãi đến năm nói trên 1757, chúa Cao Miên là Nặc Tôn vì thất thế, mới chịu giao vùng nói trên đây cho vua ta. Bấy giờ mới đặt làm “Châu Đốc” và danh từ Tân Châu xuất hiện từ đó, nhưng không phải là quận huyện, mà là một đạo đồn thủ: “Tân Châu Đạo”.

Sử ghi: Tân Châu Đạo án ngữ Tiền Giang (từ Tân Châu đến Cù lao Giêng), Châu Đốc đạo án ngữ Hậu Giang (liên lạc với đất Hà Tiên của họ Mạc, hồi nầy cũng đã dâng về cho chúa Nguyễn).

Tuy nhiên, trong hồi có Tân Châu đạo thì ở đây chỉ là một đồn binh biên tái, rất hẻo lánh, hoang tịch. Ngoài số người Việt vì công vụ, rất ít thường dân Việt, mà phần đông là thổ dân (Miên). Mãi đến đời Gia Long, nhà vua xét thấy đất đai còn bỏ trống, mới đặt làm “Châu Đốc tân cương”, mộ dân đến khai khẩn đất hoang và đặt chức QUẢN ĐẠO, chịu hệ thống về Vĩnh Long quản hạt. Sự mở mang phồn thịnh lần lượt lan rộng tới Tân Châu Đạo và Tân Châu mới thành huyện trị:

Đông Xuyên huyện

Thuộc phủ Tân Thành, ở Tây Bắc phủ 127 dặm: Đông giáp Kiến Đăng tỉnh Định Tường, Tây đến Tây Xuyên, Bắc cách hai dặm thì đến cảnh giới Cao Miên. Nguyên trước kia là địa phận huyện Vĩnh Định ở phía Đông Hậu Giang, đến Minh Mạng 13 (1832) mới đặt huyện nầy thuộc phủ Tuy Biên thống hạt.

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì huyện trị Đông Xuyên (tức quận lỵ Tân Châu ngày nay), châu vi 50 trượng, chung quanh có hào tre, ở địa phận thôn Long Sơn, làm ra năm Minh Mạng thứ 13 (1832).

Cũng theo tài liệu đã dẫn thì ở phía Đông huyện trị (tức cơ sở hành chánh huyện) là huyện học Đông Xuyên. Huyện học nầy là cơ sở giáo huấn của huyện (ngang như sở giáo huấn của quận ngày nay) cất vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837) cũng nằm trong địa phận thôn Long Sơn (Một làng ngày xưa rộng lắm có thể chạy dài từ trên Tân Châu đến cuối xã Long Sơn. Sau nầy vì dân đông, người ta chia thành xã Vĩnh Hậu, Long Phú, Long Sơn).

XIN LƯU Ý: Tân Châu bây giờ là huyện trị Đông Xuyên huyện ngày xưa, sau dời xuống Long Xuyên ngày nay.

Phần đất của Tân Châu đạo

Như phần trên đã nói, Tân Châu Đạo án ngữ Tiền Giang (từ Tân Châu đến Cù lao Giêng), đến thời Pháp thuộc địa phận Cù lao Giêng thành lập quận Chợ Mới (Long Xuyên). Từ sông Vàm Nao lên xã Vĩnh Xương, nơi biên giới Việt Miên thành lập quận Tân Châu (Châu Đốc). Nhưng phần đất từ Vàm Nao đến Nam Vang, kinh đô Miên Quốc, lại tọa lạc trên cù lao Kết 2, một cù lao hình giống như con qui, mỏ day về Vàm Nao. Mà “con qui” ấy lại nằm giữa sông Tiền Giang và Hậu Giang là hai chi nhánh của sông Cửu Long (Mé-Kong), tức Bảo Giang hay Bửu Giang.

Con sông nầy, tuy đứng vào hàng thứ 6 của những sông dài trên thế giới 3, nhưng được xem là một con sông quý báu nhứt hoàn cầu, phát nguyên từ Tây Tạng (Thibet), nơi mọc lên dãy núi Hi Mã Lạp Sơn (Himalaya) cao nhứt hoàn cầu (8840 th) và là nơi Đức Phật Thích Ca đã đắc quả chánh đẳng, chánh giác thành một tôn giáo cao siêu của năm châu.

Sông Cửu Long 4 chảy đến Nam Việt: nhánh Tiền Giang qua Tân Châu, Hồng Ngự, Kiến Phong, Sa Đéc, Mỹ Tho, Vĩnh Long nhánh Hậu Giang qua Châu Đốc, Long Xuyên, Phong Dinh, Vĩnh Bình, rồi tuôn ra biển Đại Thanh với 9 cửa: Tiểu, Đại, Bà Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, Định An, Bá Sắc Thanh Đề vừa kết tụ ngươn khí sông linh lại phát hiện đủ thứ địa hình.

Vì là một Bảo Giang, nên sông Cửu Long mang đến vùng Tân Châu nói riêng, cho miền Tây nói chung một ảnh hưởng lớn lao về cả ba phương diện: Tín ngưỡng, Tinh thần, canh nông.

Địa thế giồng, núi, cồn, cù lao

Quận Tân Châu ở về phía Đông Châu Đốc, cách tỉnh lỵ 17 cs. (qua đò Châu Giang). Quận nầy nằm dọc theo hữu ngạn sông Tiền Giang. Bắc giáp với Cam Bốt. Nam giáp quận Chợ Mới (Long Xuyên) Đông giáp quận Hồng Ngự (Kiến Phong). Tây giáp quận Châu Phú và quận An Phú (Châu Đốc). Từ xã Vĩnh Xương biên giới Việt Miên đến xã Hòa Hảo độ 55 cs. (Theo đường bộ: Tân Châu + Hòa Hảo: 40 cs., Tân Châu + Vĩnh Xương: 15 cs.).

Quận Tân Châu có một cái giồng khá to gọi “giồng trà dên” và “núi nổi” thuộc xã Tân An. Từ biên giới tới xã Tân An có nổi lên rải rác một số cồn nhỏ, song chưa có tên. Từ xã Tân An đến cồn Vàm Nao có ba cồn và năm cù lao sau đây:

A) Cồn

1. Cồn Tàu nằm bên cạnh cù lao Cỏ Găng (xã Tân An). Danh từ Cồn Tàu do một sự tích như sau: theo lời các ông bô lão nói lại trước kia “ATTELOS”, một chiếc tàu khá to chạy đường Saigon lên Nam Vang, chẳng may tàu nầy vướng lên cồn đó. Vì thế “Cồn Tàu” ra đời từ đó đến nay.

2. Cồn Thầy Cai, dưới Cồn Tàu, cách quận lỵ độ 3 cs., nằm ngay vàm Kinh Xáng (xã Tân An) nổi lên cách nay độ 40 năm. Sự khẩn cồn nầy do ông Phạm Long Nhiêu, Cai Tổng An Thành (Tân Châu). Vì vậy mới có danh từ “cồn Thầy Cai” từ đó tới nay (bây giờ là ấp Tân Hiệp của xã Tân An).

3. Cồn Vôi tục gọi cồn Dĩa, thuộc xã Phú An, cách quận lỵ 27 cs. Nay cồn nầy bồi thêm rất lớn và chạy dài gần 5 cs.

B) Cù lao

1. Cù lao Cỏ Găng, cách quận lỵ độ 7 cs. (thành lập xã Vĩnh Hòa, năm 1956, xã nầy sáp nhập vào xã Tân An, lập ấp Tân Phước).

2. Cù lao lớn và cù lao nhỏ, thuộc xã Long Khánh, cách quận lỵ 3 cs.

3. Cù lao Cái Vừng lập 2 xã: Long Thuận và Phú Thuận.

4. Cù lao Ma, một ấp của xã Phú Thuận. Xưa có ông cả xã nầy tên “cù” vì quan kiên oai ông nên dân ở đây gọi “Cù lao Ma” trại ra là “Châu Ma”, cách quận lỵ 23 cs., nằm đối diện chợ Vàm (xã Phú An).

5. Cù lao Tây cách quận lỵ 26 cs. (Năm 1956, cù lao Lớn, cù lao Nhỏ, cù lao Cái Vừng, cù lao Ma, cù lao Tây đều sáp nhập vào tỉnh Kiến Phong).

Tìm hiểu thêm

Kiến Hòa – Bến Tre, lịch sử và chuyện kể
Linh Quy Pháp Ấn | Một giải núi non dựng cảnh thiền
Câu chuyện về Biệt thự Hằng Nga

Đất Bạc Liêu xưa

Cá linh tại Tân Châu

Tìm hiểu cá Linh qua vùng Tân Châu

Cá linh là một giống cá trắng có vảy nhỏ được nổi danh nuôi dân chúng khắp miền Tây, nơi biên giới Việt Miên, nhứt là vùng Tân Châu, Hồng Ngự, Châu Đốc, Long Xuyên v.v… Giống cá nầy cũng như cá tra con và các loại cá khác đều xuất xứ tại vựa cá thiên nhiên ở Biển Hồ (Cao Miên).

Hằng năm cứ đến ngày mùng 5 tháng 5 âl. (ngày nầy bất di bất dịch), nước sông Cửu Long bắt đầu quay, hiện lên một màu đục ngầu. Thời gian nầy, cá linh nở li ti, và cũng bắt đầu từ giờ phút đó, chúng rời khỏi quê cha đất tổ, thả lênh đênh trên dòng nước, rồi trôi giạt lần lần đến vùng Tân Châu (Tiền Giang) và miền Hậu Giang. Lúc bấy giờ, chúng đã có một tầm vóc cỡ đầu đũa ăn. Chờ khi nước dâng lên thật cao, cá linh vào mương, rạch để nương mình nơi đồng ruộng bao la đầy lúa sạ của xứ ta. Chính ở đấy có nhiều thức ăn nuôi chúng trở nên trưởng thành, và đợi lúc nước hạ (bắt đầu từ thượng tuần tháng 10 âl.). Chúng giã từ chỗ tạm sống, lần lượt ra mương, ra kinh, ra ngòi, cặp theo ven bờ sông Cửu, thi nhau ngược dòng trở về quê làm giàu cho xứ Khờ-Me (Khmer). Lúc ấy cá linh lên xanh nước, tục gọi “cá linh đua”. Thuở còn để chỏm, những khi đi học về, chúng tôi lượm đất liệng chơi làm chúng hoảng hốt nhảy ào ào lên mặt nước trông thật vui mắt. Thời ấy đã qua!

Vì sao gọi cá Linh?

Người địa phương gọi cá linh với hai truyền thuyết:

a. Vài tháng trước, từ Biển Hồ xuống, rồi sau một thời gian ngắn ngủi ăn gởi nằm nhờ tại xứ ta, cá linh lại trở về xứ “Chùa Tháp”, vì đó gọi cá lên, lần lần nói trại ra là “cá linh” nên thành danh đến ngày nay.

b. Được gọi “cá linh” là do tánh linh đặc biệt của chúng. Thường năm cứ đúng ngày mùng 10 tháng 10 âl., thì cá linh khởi sự lên. Lứa nầy là lứa đầu tiên gọi cá “lên bờ rào”. Kể từ đó lần lượt cá linh lên “đông ken”. Lạ một điều là khi có mưa dầm, cá linh không bao giờ lên (là đàn hậu tấn, tôi nghe các bậc lão thành nói lại, nên ghi vào đây, không biết có đúng không ? Kính nhờ các nhà “Ngư học” giải thích thêm).

Cá linh có ba thứ: Cá linh rìa, cá linh tròn, cá linh bản. Thứ sau nầy lớn hơn hai thứ trước, dài độ hai tấc, ngang cỡ ba ngón tay. Công dụng của ba thứ cá đó sẽ nói ở đoạn 4.

Cá Linh, kỹ nghệ nước mắm

Trước kia, đồng bào chưa am hiểu tầm quan trọng của nước mắm cá linh, nên họ chỉ làm ra để chi dụng trong gia đình mà thôi. Ngày nay, sau năm 1945, ở vùng Tân Châu, Châu Đốc, Hồng Ngự và đồng thời lan tràn khắp miền Nam Việt đã biến cá linh thành “kỹ nghệ nước mắm” bán rất chạy trong giới bình dân.

Ngày sau, nhờ sự canh tân có khoa học thì kỹ thuật nước mắm cá linh của ta sẽ tiêu thụ mạnh không thua gì nước mắm biển Phan Thiết cùng các vùng khác, mang lại một nền kinh tế thịnh vượng cho nước nhà (với nội dung bài nầy, tôi không đề cập đến cách làm nước mắm cá linh trong kỹ nghệ, vì đây là một vấn đề chuyên môn, hơn nữa kỹ nghệ nầy, chắc hẳn đã có nhà giàu kinh nghiệm nói lên rồi).

Bài viết này được tổng hợp và đăng tải bởi Nhóm dịch thuật Lightway. Nhóm chuyên nhận dịch các tài liệu khoa học kỹ thuật

Một số địa danh nổi tiếng của Tân Châu

I. Chùa Giồng Thành – Một thắng cảnh cổ tích ở Tân Châu

Chùa GIỒNG THÀNH! Cái tên rất quen thuộc với dân Tân Châu, từ già đến trẻ, một ngôi chùa cổ kính nằm tại xã Long Sơn, cách quận lỵ 3 cs. bên hữu ngạn rạch Cái Vừng, giữa một cánh đồng cô tịch.

Từ cổng chùa vào, phải trải qua một con lộ đất cong queo: 3 thước chiều ngang, dài khoảng 300 thước. Hai bên đường vào chùa có nhiều nhà Phật tử, và nhiều cây to bóng mát.

Chùa được cất trên một miếng vườn rộng rãi rậm rạp và sầm uất. Phong cảnh hùng vĩ tôn nghiêm làm cho cảnh Phật Đài tăng thêm vẻ u tịch, thiêng liêng, trầm tĩnh dành riêng cho Phật tử và khách trần chán mùi thế tục. Nơi đây, người bổn xứ ca tụng là một thắng cảnh duy nhứt của quận Tân Châu, thường thu hút khách thập phương đến lễ bái và chụp ảnh kỷ niệm.

Chùa trước kia và cả bây giờ, có cái tên là “LONG HƯNG TỰ”, nhưng tên đó ít được biết đến. Người ta chỉ biết cái tên chùa “GIỒNG THÀNH” mà thôi. Sở dĩ chùa mang tên nầy và được phổ biến sâu rộng, có thể nói là cả Nam Việt, là do chùa nằm trên địa điểm cái thành ngày xưa, và để chứng minh nền chùa Giồng Thành có từ đời vua nào, tưởng cũng nên nhắc lại một đoạn ngắn lịch sử đã xảy ra dưới trào vua Thiệu Trị:

– Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), khi quân Nguyễn Tiến Lâm và Nguyễn Công Trứ dẹp xong giặc Lâm Sâm ở Nam Kỳ (tên Lâm Sâm cùng với thầy chùa làm loạn ở Trà Vinh), thì quân Tiêm La (nay Thái Lan) lại đem binh thuyền sang cùng với giặc (chắc hẳn giặc Miên) để đánh phá. Vua bèn sai Lê Văn Đức làm Tổng thống đem binh tướng đi tiễu trừ. Sai Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Tiến Lâm giữ mặt Tiền Giang, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Công Nhàn giữ mặt Hậu Giang. Ba mặt cùng tiến binh lên đánh, quân Tiêm và giặc thua to, phải rút về giữ Trấn Tây. Quan quân đuổi được quân Tiêm La ra ngoài bờ cõi rồi, đặt quân giữ các nơi hiểm yếu để đợi ngày tiến tiễu (Trích trong quyển Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim trang 467).

II. Miếu Hội – một cổ tích

Ở cách quận lỵ 3 cây số và nằm oai vệ trên con đường Tân Châu lên Kinh Xáng (xã Tân An), thuộc ấp Long Châu, xã Long Phú. Sở dĩ ngôi miễu nầy được nổi danh là một cổ tích ở Tân Châu, có trên cả trăm năm là do sự tích truyền khẩu dưới đây:

Tục truyền: Thuở đó, các vị công thần nước ta thân chinh đi đánh giặc Miên, thỉnh thoảng dừng binh nghỉ ngơi tại Vịnh Đồn hạ. Để tăng uy vũ của triều đình ta và giục lòng chiến sĩ, trước mũi chiến thuyền luôn luôn có trấn cái “Miễu nhỏ” như cái “Khánh” thờ “TỨ VÌ VƯƠNG, BÁT VỊ HẦU” (Tứ vì vương, bát vị hầu sẽ nói tiết 2). Nhờ sự phô trương thanh thế đó mà quân ta khi xáp chiến với địch quân lúc nào cũng được thắng trận vẻ vang.

Chắc hẳn, vì ảnh hưởng sâu xa về cái “miễu nhỏ” đó, nên đến sau ông Đội 9 Tài (xem bài 3) hiệp cùng các vị kỳ lão ở đây: ban sơ dựng lên cái miễu bằng tranh cũng ở chỗ hiện nay, tục gọi “MIỄU HỘI”, với mục đích chánh là ghi dấu di tích của tiền nhân, sau để làm nơi tụ hội đặng hằng năm tổ chức những buổi lễ long trọng, hầu sùng bái các đấng quân vương và các vị công thần.

Tương truyền, ngày xưa ở Miễu Hội còn “Y QUAN ÁO MÃO” rực rỡ. Tuy nhiên các di vật ấy bị thời gian mà phải hư hoại.

Ba đặc điểm của miếu Hội

1. Phía sau miễu còn dấu vết nền chùa Miên, và kế đó có một chỗ vựa muối gọi “sân muối”. Vì chất mặn của muối, nên phần đất đó không trồng trọt gì được, chỉ dùng làm nơi cầm trâu bò. Đến nay phần đất sân muối, người địa phương trồng mía rất tốt.

2. Cách miễu độ 100th, bấy giờ có một cây trôm to lớn. Dưới cội thỉnh thoảng phún lên một mạch nước. Nặng lòng mê tín, nên đồng bào ở đây cho là “mạch nước thần”. Vì khi thành tâm cầu khẩn thì mạch nước thần trào lên ùn ụt, họ mang thùng gánh nước ấy đem về nhà để dành uống cho là linh dược trị bá bịnh (mạch nước nầy, nay không còn nữa).

3. Tại tiền diện miễu có kê một cỗ trống, đến ngày lành tháng tốt, thỉnh thoảng một cặp chim gọi “sa sả cá” bay đáp lại gõ lia lịa vào mặt trống ; thấy thế người ở đây đinh ninh rằng đó là “anh hồn” của các vị công thần về đánh trống lập binh như hồi còn sanh tiền (Đến nay cặp chim nầy các cụ vẫn còn nhắc nhở).

Di tích thờ tại miếu Hội

a. Tấm sắc phong trên Chánh điện đề: Đại càn quốc gia Nam Hải. Tứ vị vương, bát vị hầu. Bên tả thờ trăm quan cựu thần. Bên hữu thờ Quan Đế Thánh Quân.

b. Đôi liễn treo tại 2 cây cột cái:

Gia nghiệp, Minh quân, Thiệu lập, Tự thừa, hô vạn tải.

Long cơ, Mạng chúa, Trị dân, Đức trạch, quán thiên thu.

(Do câu một và câu hai, từ vế trên đọc xuống, ta mới rõ thờ: TỨ VÌ VƯƠNG: “GIA LONG, MINH MẠNG, THIỆU TRỊ, TỰ ĐỨC”. Còn BÁT VỊ HẦU, thì không biết là ai, nhưng thiết tưởng không ngoài các vị công thần có công dẹp giặc Miên).

c. Cây Thần Công Đại Bác: Niên hiệu: “MINH MẠNG ĐỆ THẤT”, một dấu vết quân sự nằm oai vệ giữa tiền điện và chong họng súng ra mặt sông Tiền Giang.

Tục lệ cúng tế ở miễu Hội

Để tôn sùng những bậc tiền bối có công với nước nhà, cứ đến ngày 16-17 tháng 6 âl., trong Ban trị sự Miễu Hội đều cử hành đại lễ hầu chiêm bái các vong linh của tiền nhân. Trước kia muốn cho cuộc lễ tăng thêm phần long trọng, nên hằng năm thường kêu hát hội về đây hát đôi ba hôm tại vỏ ca. Một dịp để cho người dân tại xã và quanh vùng tấp nập đến vui chơi cho thỏa thích (Lệ hát nầy đã bị đình chỉ từ khi trong nước thiếu sự an ninh).

Lại thêm, từ trước năm 1945, hằng năm vào ngày 16 tháng giêng âl., nơi đây thường cò xác Quan Công, Quan Bình, Châu Xương lên để ban bùa phép cho nhơn dân và đồng thời có làm “TÀU TỐNG” đặng đưa lũ yêu quái ác ôn thường nhiễu hại dân trong ấp đi nơi khác. Người địa phương đều tin tưởng rằng có thi hành đúng theo thủ tục thiêng liêng đó thì trong làng xóm mới tránh khỏi được bịnh trời, tức là bịnh thổ tả.

Cuộc lễ tảo thanh loài tà ma yêu quái cử hành từ Miễu Hội đến châu thành Tân Châu. Tục nầy cũng bị đình chỉ từ lúc trong nước không được an ninh. Nhưng đến ngày 16 âl., tháng giêng năm Quý Mão nhằm 16-2-63, cuộc lễ tống quái nầy được tái diễn (lần nầy không có ông lên). Âu đó cũng là một cuộc lễ tượng trưng cho cảnh thanh bình của nước ta vậy.

Có thể bạn quan tâm:

III. Vịnh Đồn

Là người sanh trưởng ở Tân Châu, quý bạn thường nghe kẻ buôn người bán nói: “lên Vịnh Đồn” mua tơ mua hàng, vậy quý bạn có biết Vịnh Đồn có từ hồi nào và ở tại đâu không ?

– Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển hạ của dịch giả tu Trai Nguyễn Tạo, trang 68 ghi đồn nầy nguyên là “Bảo Giang” (xóm Châu Giang hiện nay ở ngang tỉnh Châu Đốc), châu vi 28 trượng, hình bán nguyệt ở huyện hạt Đông Xuyên (Tân Châu ngày nay) dời về trên sông Tân Châu (Tân Châu hà, sẽ nói bài 5), dưới trào vua Thiệu Trị thứ 4 (1844), vì giữa khoảng sông Tân Châu có gò dài tục danh “TƯỢNG PHỤ” (gò voi, sẽ cùng nói với Tân Châu hà), phía trên tiếp giáp núi “PHÙ SƠN” (Núi Nổi, sẽ nói bài 11), thường có thổ phỉ gian thương qua lại mà bảo Châu Giang và bảo Tân Châu (dấu vết là nền chùa Giồng Thành trên bài 1) cách nhau hơi xa, nên mới dời bảo nầy về đây, đặt tên là “bảo Chàng Tượng” (chàng có nghĩa là coi toàn vùng Tượng Phụ) để tuần kiểm trọn phần đất nói trên.

– Đồn nầy nằm phía trên sông Tân Châu (kinh Vĩnh An hiện nay), bên hữu ngạn sông Tiền, tọa lạc dưới cách Miễu Hội thượng 200 th. nhưng lại nằm vào cái vịnh khá to, tục gọi “VỊNH ĐỒN” (nghĩa là cái đồn ở trong cái vịnh). Đã hơn một thế kỷ, tên “bảo Chàng Tượng” bị xóa nhòa để nhường lại cho danh từ “VỊNH ĐỒN”.

Một con kênh trên dòng Mekong

Xưa diện tích quanh đồn độ trên một mẫu tây. Rồi trải qua bao biến cuộc, vùng đất ở đây bị nạn thủy phá, nên cái đồn đó đã sụp đổ, nhưng danh từ “Vịnh Đồn” vẫn còn lưu truyền mãi vào lòng người địa phương đến nay.

Bây giờ, khách hoài cổ qua lại địa phận đồn nầy không khỏi ngậm ngùi khi nhìn thấy di tích xưa chỉ còn trơ trẻn độ 200 th. vuông, tức 2 công. Công bìa trên là bãi tha ma. Công dưới, ông Nguyễn Văn Tồn, một huê kiều ở xã Đa Phước (quận An Phú) mướn lập lò đường hiệu Nguyên Hưng. Người trưởng đồn nầy là:

IV. Bờ Đồn

Cùng một trang cổ sử với Vịnh Đồn thượng, thì đồn nầy gọi “bảo Tấn An” (có nghĩa là “tấn công lập an ninh”). Đó là tiền đồn biên giới Việt Miên, châu vi 20 trượng, cao 4 th, 5 tấc, đắp năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) ở huyện hạt Đông Xuyên, tọa lạc bên hữu ngạn sông Tiền, cách quận lỵ độ 9 cs., thuộc xã Tân An (có lẽ do danh từ bảo Tấn An, mà đến thời kỳ Pháp thuộc mới đặt xã nầy là xã “TÂN AN” (mới an ninh) nay di tích đồn nầy của Bến Nước 37, thuộc xã Vĩnh Hòa. Nguyên là cù lao Cỏ Găng của Tân An, thành lập dưới thời Pháp thuộc. Năm 1956, dưới Chánh thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, xã Vĩnh Hòa đã qui hoàn về xã Tân An, lập ấp Tân Phước).

Xưa bảo Tấn An nằm tại bờ sông Tiền, do đó người dân ở đây mặc nhiên gọi thành nầy là “BỜ ĐỒN” (có nghĩa là cái đồn ở gần bờ sông) rồi thành danh. Vì thế cho nên tên “bảo Tấn An” bị quên lãng theo thời gian để nhường cho danh từ “BỜ ĐỒN”.

Trải qua bao cuộc bể dâu, bảo Tấn An bị sụp đổ vì nạn đất lở, nhưng tên “BỜ ĐỒN” vẫn còn in sâu vào tâm hồn người địa phương đến nay. Sau đó, người trấn thủ Bờ Đồn là:

Ông Đồng Phú Hữu

Theo lời hai ông: Đồng Văn Hay và Trần Văn Tông, người xã Vĩnh Hòa, là cháu nội, ngoại ông Đồng Phú Hữu thuật lại thì viên Trưởng Đồn nầy có một sự tích sau đây:

Dưới trào vua Tự Đức (căn cứ theo tài liệu của Đội 9 Tài thượng) khi đồn ải cất xong, triều đình mới sai 10 người Trung Việt đi thú đồn là những ông: 1.- Đội nhứt Chiến. 2.- Đội nhì Đắc. 3.- Đội tam Đồng. 4.- Đội tứ Lân. 5.- Đội năm Trinh. 6.- Đội sáu Hữu (tức ông Đồng Phú Hữu nói trong bài nầy). 7.- Đội bảy Sử. 8.- Đội tám Tảo. 9.- Đội 9 Tài. 10.- Đội mười Thà. Tám ông kia chẳng biết đóng ở đồn nào. Chỉ biết ông Đội 9 Tài thì thú ở Vịnh Đồn thượng, còn ông Đội sáu Hữu thì đóng ở Bờ Đồn nói đây.

Khi đáo nhậm Bờ Đồn, muốn cho thành trì được kiên cố, ông Đồng Phú Hữu cho quân sĩ trồng toàn tre rừng quanh đồn mà chỉ chừa có một cái cửa duy nhất để ra vào đồn mà thôi. Trong thời gian đó, có nhiều lần ông hiệp binh với ông Đội 9 Tài (Hai ông cách nhau độ 7 cây số) để lấn ranh đất Châu Lạp lên tận xã Vĩnh Xương, rồi dùng cây danh mộc cắm ranh gọi “MỘC BÀI”. Hiện là biên giới Việt Miên.

Ngôi Miếu Ngũ Hành xuất hiện

Vào một năm, tại xã Vĩnh Hòa, bỗng nhiên có bạo bệnh thời khí bộc phát giết hại dân chúng quá nhiều, nhưng không có phương thuốc nào chữa trị cho hết. Là vị Trưởng đồn, ông Đồng Phú Hữu chỉ có bổn phận bảo vệ an ninh vùng nầy, còn về bạo bệnh đang hoành hành, ông đành bó tay. Cuối cùng ông mời tất cả bô lão ở đây lại để vọng bàn hương án cầu Trời, khẩn Phật hầu giúp dân lành qua cơn bệnh hiểm nghèo.

Để tôn trọng sự tín ngưỡng thiêng liêng, ông cùng người ở đây dựng lên cách Bờ Đồn độ 500 th, một ngôi miễu bằng ngói thờ “NGŨ HÀNH”. Đến nay cái miễu nầy vẫn còn. Hằng năm ông cử hành hai lệ cúng vào ngày rằm 16 tháng giêng và rằm 16 tháng 7 âl.

Giữa năm 1945-1954, thực dân tái chiếm nước ta, có nhiều lần quân Pháp đổ bộ qua vùng nầy. Thấy ngôi miễu Ngũ Hành, quân xâm lăng nghi đấy là cơ sở đặc biệt của Việt Minh, nên muốn ra tay thiêu hủy. Nhưng cũng rất may, trong đám quân nhơn đó có lính Việt can đảm đứng ra ngăn cản và đồng thời giải thích cho bọn ấy biết đấy là di tích thờ phượng của người Việt và cảnh cáo chúng chớ nên phạm đến như phá bàn thờ, sẽ mích lòng dân. Nghe được, lũ họ Thực trở lại mị dân bằng lối đứng ra thành kính lễ bái.

V. Kinh Vĩnh An Hà

Đúng theo cổ sử thì kinh này gọi “sông Tân Châu” (Tân Châu hà), nằm bên cạnh huyện thị Đông Xuyên, tức cũng khơi con kinh tại thôn Long Sơn, chỗ quận lỵ Tân Châu bây giờ. Đường sông (hay kinh) thông từ Tân Châu Bảo (Trước là Tân Châu đạo, sau đổi ra Tân Châu bảo) ở Tiền Giang đến Châu Giang thủ (phía trên xóm Châu Giang hiện nay) ở Hậu Giang. Dài hơn 550 trượng, trên miệng rộng 6 trượng, dưới đáy rộng 3 trượng, sâu 9 thước (thước cổ). Khởi đào vào năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) và hoàn tất vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1845). Kinh nầy còn có tên là Long An Hà, Vĩnh An Hà và sau cùng đổi ra Tân Châu Hà dưới đời Tự Đức.

Sau đó, một tấm bia khắc bằng chữ nho: “VĨNH AN HÀ 38 – TRIỆU TRỊ ĐỆ NGŨ – KIẾT NHỰT TẠO” được dựng lên ở tả ngạn vàm kinh. Tính đến nay kinh nầy khai sanh 119 năm (1845-1964), sau kinh Vĩnh Tế 39 là 26 năm (1819-1845).

Kinh Vĩnh An nối liền Tiền Giang với Hậu Giang từ Tân Châu qua Châu Đốc (qua đò Châu Giang) dài 17 cs., rộng từ 15 đến 27 th, đào theo chương trình của Tuần phủ Vĩnh Long là ông Nguyễn Tri Phương và Đốc Bộ Châu Đốc là ông Nguyễn Công Nhàn.

Để tỏ lòng tri ân nồng hậu hai vị công thần trên đây, nhà cầm quyền Tân Châu ghi tên ông Nguyễn Tri Phương bên đường tả ngạn kinh Vĩnh An. Còn ông Nguyễn Công Nhàn thì ghi tên đường bên hữu ngạn kinh nầy.

Dòng nước kinh Vĩnh An chảy qua xã Long Phú, Phú Hội Đại Vĩnh Xuyên 40, Vĩnh Phong, Phụm Soài và Vĩnh Hậu 41.

Hiện nay, kinh nầy có 6 cây cầu: một bằng sắt lót ván tại quận lỵ 42, hai (cầu đúc) tại cây số 3, ba bằng cây ván tại đình Phú Vĩnh (cây số 5.700), bốn bằng cây ván tại cây số 7, năm bằng cây ván tại cây số 9, sáu (cầu đúc) tại vàm hậu thuộc xã Châu Phong.

VI. Kinh Thần Nông

Cũng gọi “Kinh Mới”, tọa lạc trên con đường Tân Châu Châu Đốc, cách quận lỵ 500 thước, thuộc xã Phú Vĩnh, đào vào lối năm 1882, (trước chợ Tân Châu (1897) 15 năm), phóng bong tiêu do Xếp Khánh, nhơn viên sở họa đồ Châu Đốc, mộ phu đào kinh do ông Trần Hữu Quận, bấy giờ là Phó Tổng An Lạc, thân sinh cố Hội Đồng Địa hạt Trần Hữu Lân ở xã Phú An.

Trước kia, chương trình đào kinh nầy không biết do ai nghiên cứu, nhưng nhằm vào hai mục đích chánh sau đây:

1. Nối liền kinh Vĩnh An từ xã Phú Vĩnh với Cái Đầm, một ngọn rạch ăn thông ra sông Hậu Giang, thuộc xã Hiệp Xương, quận Châu Phú.

2. Làm cho nước giữa đồng ruộng rút xuống kinh để khai thác những phần đất hoang vu, thành điền địa tốt.

Kinh Thần Nông sâu 2 th.50, rộng 60 th. Công trình đào đã được sáu năm, dài độ 25 cs., khi còn cách rạch Cái Đầm chừng 5 cs., bất ngờ bị đình chỉ công tác, không rõ nguyên nhân vì sao ? Dòng nước kinh nầy chảy qua những cánh đồng xã: Long Phú, Phú Vĩnh, Long Sơn, Phú Lâm, Phú An, Hòa Lạc, Bình Thạnh Đông (Châu Phú), nếu được thông tới Cái Đầm thì qua xã Hiệp Xương.

Kinh nầy chỉ lưu thông vào mùa nước dâng (từ tháng 8, 9, 10, 11 âl.) còn đến khi nước hạ thì khô cạn (Dân chúng ở đó phải đào giếng mới có nước xài).

Vì sao gọi Kinh Thần Nông?

Tục truyền, hồi xưa vùng nầy có một giống chim to gọi “Chim Nông” 43 thường chung lộn theo cồng cộc phá hại đìa bàu của dân chúng ở đây dữ lắm. Khi ăn xong, chúng tự lên một cái giồng khá to gần đấy để nghỉ ngơi. Chạm vào tính hiếu kỳ, đồng bào ta thuở đó mới mượn Tên “GIỒNG và NÔNG” của chim nông, ghép lại kinh mới đào nầy là kinh “GIỒNG NÔNG” (ghép lại cũng như chùa Giồng Thành thượng).

Thấy danh từ kinh “Giồng Nông” không mấy đẹp và không phù hạp với tôn chỉ chỗ hoang vu, nay được dẫn thủy nhập điền cho nông dân canh tác điền địa. Vì thế, các cụ thông cổ kim mới sửa lại, lấy tích ông “THẦN NÔNG” là vì vua đời thượng cổ, trước vua “Nghiêu Thuấn” bên Tàu, có công dạy dân làm ruộng đặt lại tên con kinh nầy cho có vẻ văn hóa về mặt lịch sử.

Kinh Hòa Bình xuất hiện

Cách nay độ 25 năm, người Pháp có cho xáng đào con kinh tại Hòa Lạc (Châu Phú), một xã nằm bên tả ngạn sông Hậu, ở giữa xã Vĩnh Hậu và Bình Thạnh Đông. Ngọn kinh nầy đụng vào kinh Thần Nông, đặt tên là kinh Hòa Bình, tục gọi kinh “Bà Đầm”, bởi sự tích sau đây: Trong khi đào con kinh nầy, có vợ chuyên viên Pháp, gọi “Bà Đầm” (do Madame) đi theo chồng trên chiếc xáng. Thấy vậy, dân ta có tánh khôi hài mới đặt tên kinh Hòa Bình là kinh “Bà Đầm”, rồi thành danh đến nay.

Long Sơn – Một Thôn Lịch Sử

Ngày xưa, thôn nầy rất rộng lớn, có thể chạy dài từ trên Tân Châu tới giáp ranh xã Phú Lâm (sau vì dân đông nên người ta phân nó ra nhiều xã). Đó là một thôn lịch sử của quận Tân Châu ; vì thời xa xôi ấy, nơi đây có đặt huyện trị Đông Xuyên. Học huyện Đông Xuyên và Tân Châu bảo (dấu vết là chùa Giồng Thành hiện nay). Ngay như bây giờ, người địa phương vẫn còn gọi thôn Long Sơn là “XÓM HUYỆN”, còn vàm rạch Cái Vừng là “VÀM HUYỆN”.

Đúng theo cổ sử thì thôn nầy có bãi cát kêu “BÃI CÁT LONG SƠN”, tục gọi “CÙ LAO CÁI VỪNG” (di tích ngày nay là xã: Long Khánh, Long Thuận và Phú Nhuận) ở thượng lưu Tiền Giang, có địa thế tốt: chỗ lồi chỗ lõm, có sừng gạc như đầu rồng, xưa chính là sở tại thôn Tân Phú. Nơi đây rừng tre trù mật, nước sông lưu thông, bờ phía Tây có thủ sở Hùng Ngự (sau nói trại ra Hồng Ngự như Câu Lãnh nói sai thành Cao Lãnh) có hình thể hùng quan cứ hiểm.

Xưa nay, Long Sơn được nổi danh là một xã trù phú và có một phong cảnh đẹp nhứt trong quận ; vì ngoài ruộng rẫy ra, từ đầu đến cuối làng toàn là vườn trầu rậm rạp mát mẻ, lá phơi màu vàng ánh do đó Long Sơn còn gọi là “Xóm vườn trầu”. Còn thẳng rẳng đôi bên con lộ dài 9 cs., nổi bật lên những cây nhãn khá lớn. Đến mùa trái chín (tháng 6, 7 âl.), mùi tỏa ra thơm phưng phức (Nhờ hai nguồn lợi của xã nầy mà Tân Châu mang danh là xứ “TRẦU NHÃN”). Vì thế nên mỗi khi đến chợ Tân Châu nhằm mùa, du khách dừng lại để chọn mua 5, 3 giỏ nhãn về thưởng thức và biếu bạn bè thân quyến.

Đã vậy, dân ở đây còn trồng gừng và tre “Mạnh Tông”, một thứ tre lịch sử 45, mọc lên những mụt măng ngon lành mà người ta thường thấy bán ở các buổi chợ Tân Châu.

Vĩnh Xương – Một Xã Biên Thùy

Xã Vĩnh Xương, nguyên trước kia là phần đất của làng Tân An tách ra, cách quận lỵ độ 15 cs., dài chừng 5 cs., nằm bên hữu ngạn sông Tiền. Phía Bắc giáp với Cam Bốt, phía Nam giáp với xã Tân An, phía Tây giáp với quận An Phú (Châu Đốc), phía Đông giáp với sông Tiền.

Diện tích: 1200 mẫu. Dân số: 5099 người. Phần đông đồng bào ở đây chuyên về ruộng rẫy, một số ít về thương mại và thủy lợi. Sản vật chính là: lúa, bắp, đậu xanh, đậu phộng, dâu, tằm tơ (Giữa thời kỳ chống Pháp, Việt Minh thường xuất hiện ở xã nầy).

Vài di tích còn truyền tụng

NÚI CAM GA

Một cái núi bắt đầu vươn mình lên vào khoảng thế kỷ 18, cao 1 th., rồi lần lần trầm xuống. Hiện nay nơi đây chỉ còn là đá lạng chạy dài độ 6 cs. thành một cái giồng hơi cao và to gọi “GIỒNG ÔNG NGÙY”.

BA LÒ

Là ba cái láng khởi từ đầu Mũi Dội, xã Vĩnh Lợi (Cao Miên) chạy đến chùa Bà Năm, qua giồng Cam, xã Vĩnh Xương. Vì sao gọi “Ba Lò” ? Xưa, Ba Lò là một nơi sình lầy, ở vào một chỗ hoang vu đầy thú dữ, nằm dọc theo cái giồng kêu “GIỒNG CÁT”. Cuối giồng nầy còn có hai giồng nữa là giồng “Hàm Nai” và giồng “KIẾN”. Ba cái giồng nầy (mỗi cái dài độ 4 cs.) nằm kè bên nhau. Mỗi cái đều có một cái trũng to và sâu (qua mùa nước hạ, ba cái trũng nầy có rất nhiều cá trắng và cá đen) và nối liền nhau bởi ba cái trấp gọi “TRẤP GIANG LÒ”, xa trông như cái lò nấu cơm. Vì đó danh từ “Ba Lò” ra đời cho đến nay.

Núi Nổi

Đúng theo cổ sử thì núi nầy gọi “PHÙ SƠN”. Đó là cái núi rất nhỏ (gọi cái đồi con là phải hơn), cao độ 3 thước, diện tích ước nửa mẫu tây, cũng tọa lạc về địa phận xã Tân An, nằm cách phía Tây giồng Trà Dên thượng lối cây số và cách bờ Kinh Xáng chừng hai ngàn thước.

Núi nầy được người xã Tân An ca tụng là “núi linh”, vì hàng năm họ để ý thấy nạn lụt thế mấy cũng không hề ngập tới đỉnh, mặc dù núi ấy thật thấp. Hơn nữa, để thỏa mãn tính hiếu kỳ, các bô lão ở đây ghi thử mực nước vào sườn núi. Năm nào cũng như năm nấy, nguồn nước sông Cửu tràn ngập mênh mông vào đồng ruộng, mực nước vẫn lên đúng chỗ đánh dấu. Bởi vậy, các vị cao niên tin tưởng rằng có thần thiêng liêng ngự trị trên núi đó, biến phép cho núi luôn luôn cao hơn mực nước như trong truyện cổ tích nước ta là “SƠN TINH” và “THUỶ TINH”. Chỉ vì người đẹp mà hằng năm Thuỷ Tinh dâng nước để hạ Sơn Tinh. Nhưng thắng không được Sơn Tinh, bởi vị thần nầy có phép cao cường làm núi cao, nên Thuỷ Tinh luôn luôn thảm hại. Do đó, các cụ mạnh dạn tuyên bố núi đó là “Núi Nổi” (Có lẽ, giữa hai thế hệ cùng chung một cuộc thí nghiệm, cho nên người nay gọi “NÚI NỔI”, còn người xưa: “PHÙ SƠN”).

Tại Núi Nổi hiện nay còn cây cột cờ và cái mỏ neo. Ngày xưa, chỗ nầy là một cù lao ngầm ở giữa Tiền Giang và Hậu Giang (sau cù lao nầy gọi Cù lao Kết). Vì thế, chiếc thương thuyền của người Hải Nam chẳng may vướng lên cù lao đó, nên bây giờ còn hai di vật ấy.

Thêm vào đấy, trên núi Nổi còn có cái giếng, nước rất trong đủ xài suốt năm, mà người địa phương cho là cái giếng phi thường vì mực giếng luôn luôn tuỳ theo nước lớn hay ròng của sông Tiền (Chắc giếng nầy nối mạch ăn thông với sông Cửu, nên giếng phải lệ thuộc ngọn thuỷ triều sông Tiền).

Thấy núi Nổi yên tịnh lại ở thăm thẳm trong đồng vắng, một nơi rất phù hạp với người có lòng mộ đạo Phật vô biên, cho nên trước tiên ông chủ Trần Hữu Oai (qua đời) và ông Nguyễn Thành Thân (qua đời) đồng ý dựng lên ngôi chùa bằng tranh lá.

Sau đó, có ông Đạo Một (chỉ có một mắt) về đây tu hành. Tục truyền, ông đạo nầy có nuôi bầy rắn hổ khá to, mà người ta cho là “RẮN THẦN”, rất hiền, không hề làm hại ai cả. Khi ông từ trần, bầy rắn đó cũng biến mất.

Trước năm 1945, ông Cả Đào Thành Đô, Lương Bá Đại, Nguyễn Thành Võ và ông Trần Tấn Toàn, tục gọi “Thủ Bổn Sách” nhận thấy chốn núi linh mà ngôi chùa thì bằng tranh lá, sẽ mất công tu bổ. Vì đó quý ông nói trên đồng tâm tái thiết ngôi chùa lại bằng ngói. Hiện nay trụ trì chùa núi Nổi là ông Trần Văn Mịnh.

Vàm Nao

Là một sông ngắn (độ non 2 cs.), nằm bên cạnh xã Hoà Hảo, nối liền Tiền Giang với Hậu Giang và cũng là một con sông giáp ranh cả ba tỉnh: Châu Đốc, Long Xuyên và Kiến Phong.

Theo lời ông Đặng Văn Tỵ, vị Thông phán hồi hưu ở Châu Đốc nói lại thì con sông nầy nguyên xưa là đường tượng đi, lâu ngày thành ngọn tiểu khê, rồi lần lần bị áp lực của hai sông Tiền và Hậu chảy xiết, nay trở nên con sông rộng lớn cả trên cây số ngàn.

Đúng theo cổ sử thì sông Vàm Nao xưa kia gọi “HỒI OA THUỶ” (nước xoáy tròn). Sở dĩ hiện trạng nầy mà có, thường khởi từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch, khi sông Cửu bắt đầu dâng lên, nước cuồn cuộn chảy như thác lũ ; những dòng nước xoáy to lớn nơi Vàm Nao ồ ạt đảo lộn liên tục làm cho sự lưu thông trở nên khó khăn: người chưa từng kinh nghiệm trên dòng nước xoáy nguy hiểm lắm lúc bị đắm thuyền.

Sử ghi: ngày xưa, chỗ nầy có cất một cái đồn gọi “ĐỒN HỒI OA”. Năm Đinh Tỵ (1787), khi đầu trung hưng, vua Thế Tổ Cao Hoàng Đế từ nước Xiêm về đóng binh ở đây, nay di chỉ vẫn còn. Năm Tự Đức thứ 2 (1842), Đốc thần là Doãn Uẩn phỏng tra việc cũ, có dựng bia cho nền cũ nầy, để ghi thắng tích 48.

Sông Vàm Nao được lưu danh muôn đời là một “ổ cá mập”. Tục truyền: Đến đời Gia Long thứ 18 (1819), ông Thoại Ngọc Hầu được lịnh nhà vua đứng ra chỉ huy bắt dân vùng Chợ Mới, Chợ Thủ (Long Xuyên), v.v… đào kinh Vĩnh Tế để nối liền Châu Đốc – Hà Tiên.

Lúc bấy giờ, trọn vùng đào con kinh này còn hoang vu toàn là rừng thiêng nước độc đầy thú dữ. Vì thế, phu đào kinh thường bị nạn cọp tha, bò rừng xé. Vừa quá kham khổ, vừa đứng trước nanh vuốt của tử thần, cho nên có một số phu tìm đường trốn tránh, nhứt là phu ở vùng nói trên. Khi về đến sông Vàm Nao (thuở đó con sông còn rất hẹp), phần vì sợ truy nã, phần không có xuồng ghe. Họ tự đốn chuối đồng ôm lội qua con sông ghê rợn nầy, cả thảy đều làm mồi ngon cho loài “thuỷ hạm”, may lắm mới còn sống sót một vài người là cùng.

Bài viết bạn đang đọc được Nhóm Dịch thuật Lightway tổng hợp và đăng tải. Nhóm chuyên nhận dịch các tài liệu tiếng Anh, tiếng Việt với chi phí chỉ 29k/300 từ, rẻ nhất thị trường hiện tại.

Nhân kiệt vùng Tân Châu

Tú Tài Trần Hữu Thường (1844-1921) Nhà Mô Phạm Trứ Danh Miền Nam

Cho đến ngày nay ở miền Nam, thứ nhất các tỉnh miệt Tiền Giang và Hậu Giang, mỗi khi nhắc lại thời Nho học còn thịnh, phần đông không sao quên được một bậc thầy đáng kính: Tú tài Trần Hữu Thường.

Một ít môn sinh cụ Tú bây giờ còn sống, tuy tàn cỗi già nua không làm gì được, nhưng vẫn được coi là hạng người chín chắn, đem Nho phong làm khuôn mẫu cho nếp sống xóm làng. Trong những ngày khánh tiết, đình đám, các cụ thường đem những lời khuyên răn mực thước của cụ Tú mà tán dương và khuyến khích mọi người noi theo. Vây nên cụ Tú tuy đã quá vãng từ lâu, không ai biết mặt mày cụ ra sao, nhưng tên tuổi cụ được, nhất là người địa phương, hằng ca tụng.

*

Cụ Tú sanh dưới triều Thiệu Trị đệ tứ (1844), giữa năm đào kinh Vĩnh An Hà (1843-1845), quê ở Phú Thuận (Tân Châu). Xã nầy đã được sáp nhập quận Hồng Ngự (Kiến Phong). Hiện nay dấu tích cụ như mồ mả, đất đai vẫn còn tại nguyên quán.

Cụ vốn là học trò của cụ Huấn đạo Nguyễn Văn Khuê đỗ Tú tài dưới thời Tự Đức. Bởi thiếu tài liệu để tra cứu, nên chưa tìm rõ được cụ thi trong khoa nào, chỉ biết rằng khoảng cụ thi đỗ chính vào lúc tiếng súng xâm chiếm của quân Pháp đã nổ vang tại miền Nam. Các cụ Thủ Khoa Huân, Tiến sĩ Đạo, Tiến sĩ Thông, chắc có người lớn hơn cụ, nhưng đều thuộc hạng sĩ phu ở vào một thời với cụ.

Cụ có thân hình cao lớn vạm vỡ, da ngâm, râu rậm, mới trông ai cũng tưởng cụ là người thuộc hạng võ biền, nhưng tâm tính cụ khoan khoái, đôn hậu, đãi mọi người như anh em, coi học trò như con đẻ.

Cụ Tú có bảy người con: bốn gái ba trai. Tất cả được cụ rèn luyện chu đáo nên rất giỏi chữ nho. Nhưng lỗi lạc nhất là Trần Tứ Duy, bút hiệu Trần Thiện Chánh. Người đồng thời và cả người hiện nay đều công nhận ông là một nhà nho uyên thâm nhất ở quận nhà. Bởi vậy có lần ông Mã Tương Hồn, một nho sĩ bên Trung Quốc nghe tiếng tìm đến thử tài với ông. Sau 10 bài thơ xướng họa, ông đành nhượng bộ. Vì đứa con sanh không gặp thời, nên lúc trà dư tửu hậu, cụ Tú thường than với bạn đồng môn: “Nếu triều đình ta mà còn thì mảnh văn bằng Cử nhơn, con tôi sẽ nắm trong tay”!

Cụ thích nhàn tản đạm bạc. Khi quân Pháp chiếm xong Nam Kỳ, họ đã mấy phen mời cụ ra cộng tác, nhưng cụ một mực từ chối, khư khư ôm tiết tháo của một kẻ sĩ chân chính, chỉ mở trường dạy học để khuây khỏa tháng ngày. Khắp các tỉnh miền Tây Nam Kỳ thời ấy, nơi nào cũng có người theo học với cụ. Cụ siêng đọc sách để trau giồi thêm học lực, nhưng không thích làm thơ văn ; nếu thỉnh thoảng làm được thơ văn, cụ cũng không cho ai sao chép ; vì vậy mà thơ văn cụ không còn lưu lại được bao nhiêu, họa hoằn chỉ sót một vài bài có liên hệ tới những giai thoại văn chương hay lịch sử mà thôi. Sau đây là vài bài thơ cụ còn lưu lại:

Nguyên cụ Tú có người học trò tên Nguyễn Văn Nghị, quán ở Tân Thuận (Cao Lãnh), sau khi học giỏi xin phép thầy trở về dạy học ở quê nhà. Tư cách của Nghị rất đứng đắn nên được mọi người tin cậy, gởi con em tới học khá đông. Nghe danh tiếng, có lần nhân dịp rảnh rang, cụ sai học trò chèo thuyền đưa đi từ Phú Thuận tới Cao Lãnh, để vừa viếng cảnh, vừa thăm trường học của Nguyễn Văn Nghị. Lúc thuyền lênh đênh trên dòng Tiền Giang, cụ nhìn mây nước bao la mà bất giác có cảm hứng làm một bài thơ, kịp khi tới Cao Lãnh đọc lên cho Nghị và mọi người có mặt thưởng thức. Thơ như sau:

Tân Thuận đường đi cách mấy làng,
Xa xôi mỏi mắt ngó mê man.
Mịt mù khuất lấp vàm Trâu Trắng,
Lúp xúp cây giăng rạch Đốc Vàng.

Mưa tạnh bên trời mây chớn chở,
Buồm treo mặt nước sóng lan chan.
Cù Tây nghĩ nhớ khuôn trời đất,
Giục giã lòng trung ứa lá gan!

Bài thơ tả cảnh vật theo các làng mạc ven sông rất thực tế: nào Trâu Trắng ; Đốc Vàng ; nào Cù Tây, Tân Thuận… ở câu cuối còn nhắc tới chữ “Trung” rất khuôn hợp đạo Nho ; nhưng bên trong còn tiềm ẩn một ý vị xót chua thời thế mà người không có nhiệt tâm ái quốc không sao thông cảm được. Và nổi bật nhất là cặp luận:

Mưa tạnh bên trời mây chớn chở,
Buồm treo mặt nước sóng lan chan.

Phải rồi! qua cơn đàn áp mãnh liệt của thực dân, họ đã nghiễm nhiên ngự trị mà làn sóng cách mạng của dân tộc thì đã dần dần lui vào chỗ im lặng! Rồi “Cù Tây”… rồi “ứa lá gan”… sao mà gói ghém và thấm thía đến như thế ?

*

Năm 1913, nghe tin cụ Đề Thám bị ám sát và quân Pháp đem thủ cấp cụ bêu tại chợ Nhã Nam, cụ Tú Thường có bài thơ cảm tác:

Sông non gầy dựng kể từ đây.
Xăng rối đâu xui sự thế nầy?
Mối nước chạnh sầu nơi cửa Bắc,
Giếng trời nghĩ nhớ thuở phương Tây!

Lân dần vàm khớp vùng ai dễ,
Rồng đợi mây mưa gặp vận bay
Cơ hội chừ thôi chi xiết nói,
Đầy vơi e cũng lý vần xoay!

Một lần sang chơi Rạch Giá, thấy tỉnh lỵ nầy có vẻ lạ mắt, cụ có làm một bài thơ:

Phong cảnh Long Xuyên đã biết rồi,
Chợ như Rạch Giá khá nên vui.
Cầu ngang già trẻ xăng qua lại,
Biển rộng tàu bè thả ngược xuôi.

Buổi sáng nhóm đông người lòn sắc,
Ngày dài bán đủ vật nhiều mùi.
Anh hùng lắm lúc còn roi dấu,
Mấy lá gan trung luống ngậm ngùi!

Câu “Anh hùng lắm lúc còn roi dấu”, cụ muốn nhắc tới cái chết vì nghĩa vụ của cụ Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá năm 1868; cái chết anh dũng mà quốc dân không sao quên được và về sau đã lập đền thờ tại đây.

*

Từ khoảng đầu thế kỷ trở đi, người Pháp vì muốn cho dân tộc ta học quốc ngữ và Pháp văn để tuyển dụng người giúp việc, nên tìm cách ngăn trở những nhà Nho, không cho dạy chữ Hán. Cụ Tú Thường vì vậy chỉ còn dung chứa được lối năm sáu mươi học trò giỏi trong nhà, và số học trò nầy cũng học một cách lén lút, không được công khai. Nhưng rồi một dịp may đã đến kịp thời với cụ.

Khoảng năm 1912, một chủ tỉnh Pháp đổi tới Châu Đốc. Ông có lòng hiếu cổ, thấy nơi đây có nhiều thắng tích, nhất là lăng của Thoại Ngọc Hầu, một Công thần nhà Nguyễn, các bia dựng trên các ngọn núi Sam, núi Sập, nên cho lịnh mời cụ Tú đến nhờ dịch ra cho ông hiểu. Cụ Tú đã dịch bia Vĩnh Tế Sơn và bia Thoại Sơn ra văn vần 70. Cụ được viên chủ tỉnh ấy tiếp đón niềm nở và khi trò chuyện, có hỏi: “Thấy ông là bậc cao sĩ, quan lớn rất mến tài, vậy ông có muốn gì cứ nói, quan lớn sẵn sàng giúp đỡ cho”.

Cụ Tú thản nhiên trả lời: “Tôi không muốn gì hết”.

Viên chủ tỉnh Pháp lại căn dặn: “Quan lớn sẽ ban chức Tri Huyện danh dự cho cụ, cụ nhận chớ ?”

Cụ Tú lắc đầu và nhớ ra một việc cần: “Quan lớn có hạ cố, xin vui lòng cho phép tôi được đem đạo lý thánh hiền ra giảng dạy cháu con để duy trì phong hóa nước nhà. Bình sinh tôi chỉ ước muốn có bấy nhiêu!”

Viên chủ tỉnh Pháp nắm tay cụ, cười ngất và hứa sẽ làm thỏa mãn ý muốn của cụ. Thế là từ ấy cụ Tú lại được dạy dỗ học trò như trước 71.

Hai bài bia nói trên, ghi sau đây, tuy dịch không hay lắm, nhưng được cái sát nghĩa và tự nhiên.

Nhóm dịch thuật Lightway chuyên nhận dịch hợp đồng tiếng Anh với chi phí chỉ 29k/300 từ. Quý khách có nhu cầu xin liên hệ nhóm qua Zalo: 0904624177

Cao Nhựt Tân

Người xã Long Phú (Tân Châu), tục danh “Nhiêu Tân”. Cụ là bạn đồng môn và chí thân của Tú Tài Trần Hữu Thường. Sau trận đệ nhị thế chiến (1939-1945) đến nay, thân nhân cụ đã tản cư nơi khác, nên ít ai biết cụ sanh và mất năm nào.

Theo lời ông Chánh Bái Dương Văn Bình ở đây thuật lại: Cụ có vẻ người mảnh khảnh, song giọng nói rất hùng hồn. Cụ đã từng nổi tiếng khắp quận nhà là người văn hay chữ tốt. Trong các cuộc tao ngộ giữa văn nhân thi sĩ, cụ thường tỏ ra là một diễn viên xuất sắc.

Chưa khip đăng khoa thi Tú Tài, thì chẳng may nước nhà bị quân Pháp chiếm trị, thành ra bước công danh cụ đành lở vỡ. Đời cụ phải chịu mai một. Đến thời Pháp thuộc, vì sinh kế, cụ buộc lòng lãnh dạy chữ nho tại trường Tổng Tân Châu. Sự nghiệp văn chương của cụ có lắm giai thoại, nhưng đáng kể nhứt là vụ làm mai sau đây:

Vào năm…, ông phán Phạm Hữu Hạnh được lịnh bổ nhiệm lại Tân Châu làm chủ sự nhà thơ dây thép, nay sở Bưu Điện. Được một thời gian, nghe đồn Tú Tài Trần Hữu Thường có một gái gồm đủ: “Công, Dung, Ngôn, Hạnh”, nên ông đến cậy cụ Nhiêu Tân làm mai. Lễ hỏi xong. Gần ngày cưới, ông lại tìm cách từ hôn, để sau đó đi cưới ái nữ ông Cả Rèn ở Thường Phước, một xã trước kia thuộc Tân Châu, nay về quận Hồng Ngự (Kiến Phong).

Sở dĩ có chuyện thay đổi không hay nầy, vì ông Cả Rèn là vị đại điền chủ có thế lực hơn cụ Tú. Lãnh vai Trình Giảo Kim bất thành, cụ cảm tác bài thơ không đề:

Phưởng phất mùi hoa bướm não nồng!
Tin ong nghe có thoạt rồi không.
Ngẩn ngơ cám kẻ xe dây thắm.
Lở vỡ thương ai thẹn má hồng.

Đất tốt hãy còn chờ giống tốt.
Ngọc tành dành để nệ gì công.
Thôi thôi đã vậy thôi đành vậy!
Khuê các khi còn chỗ ngóng trông

Vài năm sau, ông phán Hạnh được lịnh thuyên chuyển nơi khác. Ông phán Khanh thay thế. Chính ông nầy đi cưới con gái cụ Tú bị từ hôn. Vì vậy, người đồng thời mỉa mai ông phán Hạnh, mà không hạnh, là kỹ sư đào mỏ.

Nguyễn Chánh Sắt Nhà Văn Tiền Phong Miền Nam (1869-1947)

Cụ Nguyễn sanh năm 1869 tại xã Long Phú (Tân Châu) trong một gia đình bần nông, cha là ông Nguyễn Văn Tài, mẹ là bà… Cùng xóm có ông Nguyễn Văn Bửu và bà Đặng Thị Nghiêm, hiếm hoi, muốn có người thừa tự, bèn nài nỉ song thân cụ xin cụ làm dưỡng tử. Thấy cụ mặt mày sáng láng, có vẻ thông minh, nên cho cụ thọ giáo với Tú Tài Trần Hữu Thường. Thời bấy giờ, nhằm lúc Pháp thuộc, dưỡng phụ cụ nhận thấy để cụ đeo đuổi học chữ Hán không hạp thời, nên cho cụ qua Châu Đốc học trường Tiểu học Pháp Việt.

Sau khi đậu Văn bằng Sơ học (nay Tiểu học) thì cụ cũng vừa đúng tuổi trưởng thành. Dưỡng phụ cụ, vì muốn có cháu bồng bế, nên bắt buộc cụ thôi học để lo đôi bạn cho cụ là bà Văng Thị Yên, người đồng thôn với cụ.

Khi lập xong gia thất, năm sau bà sanh được một gái đầu lòng. Bấy giờ, dưỡng phụ và dưỡng mẫu cụ lần lượt qua đời. Bởi nhà không dư dả, bà phải đi mua bưng bán bợ ở chợ Tân Châu, cho gia đình có đủ chi tiêu. Còn cụ thì trông nom nhà cửa và săn sóc con. Tuy nhiên, rất hiếu học, sớm chiều cụ thường để mắt vào những sách chữ Hán và chữ Pháp, nên bạn trang lứa đều mến và hay đến nhà nghe cụ đọc sách và dẫn giải.

Nhóm dịch thuật Lightway chuyên nhận dịch thuật luận văn, luận án tốt nghiệp, luận án thạc sĩ, tiến sĩ

Trần Thới Hanh Thi Sĩ Trào Phúng Miền Nam (1877-1948)

Ở biên giới, miệt Tiền Giang và Hậu Giang, nói tới Trần Thới Hanh tưởng là không ai không biết. Cất tiếng chào đời bên bờ kinh Vĩnh An Hà năm Đinh Sửu (1877), người con trai họ Trần đã sinh vào thời chiến tranh Việt Pháp dịu xuống: Cuộc đối kháng của Nguyễn Trung Trực tan vỡ tại Rạch Giá năm 1868 thì cuộc khởi nghĩa của Trần Văn Thành ở Bảy Thưa cũng tiếp tục bại vong vào năm 1873.

Nhà nghèo, đông anh em, thêm sức vóc mảnh khảnh Trần Thới Hanh nuôi chí cần học để trở thành một văn nhân. Trước tiên cụ theo học với nhiều người hay chữ trong làng rồi sau lại tìm đến Phú Thuận, cầu học với Tú tài Trần Hữu Thường, một cao sĩ đồng thời với Thủ khoa Huân, từng khước từ mọi chức tước của thực dân, chuyên dạy học để truyền bá tinh thần ưu quần ái quốc.

Vì nổi tiếng văn hay chữ tốt, Trần Thới Hanh thường được đồng bào quanh vùng nhờ cụ vẽ chữ hoặc đặt văn. Những câu đối và nhiều bức hoành phi hiện còn tại đình thần làng Vĩnh Hậu (Châu Đốc) là do chính cụ đặt ra và tự tay vẽ chữ để cho các nhà điêu khắc múc chữ và phết vàng. Sở dĩ gọi là vẽ chữ vì đấy là một công trình gần như hội họa: nét bút sắc sảo và kiểu chữ xinh đẹp tuyệt vời.

Trần Thới Hanh còn am tường y thuật Đông phương và khá thông quốc ngữ. Gần nửa đời nghiên cứu và sinh hoạt Đông Y, cụ có dịp phụ trách môn Hán văn cho trường tiểu học Tân Châu suốt 10 năm trong hồi Nha học chánh Nam Kỳ còn áp dụng môn nầy cho các bậc học.

Nhưng sự nghiệp đáng kể hơn hết của cụ Trần là sự nghiệp thi văn. Cụ vui tính, nhạy cảm và sính thơ. Bất kỳ thơ Nôm hay thơ Hán, cụ thường viết không đợi hứng. Ở Tân Châu ngày trước, ai mà không nghe biết việc ông Phán Phước, Trưởng chi bưu điện, có một bà vợ bị tử nạn xe hơi trong cuộc du lịch Đề Thiên (Cao Miên). Ông Phán Phước trước cái tang đau đớn đó, đã nhờ cụ làm giúp một bài châm. Cụ cho ngay:

Ba mươi năm chẵn nghĩa tình nồng.
Vì rủi mà ra cuộc tử vong!
Nơi chốn gia đình chồng đứt ruột,
Lên xe thiên cổ vợ cam lòng!

Hiển vinh từ đấy cùng ai hưởng,
Ly biệt ngần nầy khó nổi trông!
Biển hoạn gặp cơn êm sóng gió,
Ngỡ là dìu dắt khỏi long đong!

Cùng với tánh cách nhạy cảm như trên, một phần khác, một đệ tử có hạng của lưu linh là Dương Tấn Sĩ ở Long Phú từ trần, bà vợ của ông Sĩ nhờ cụ viết giúp một bài kỷ niệm, luôn tiện để thờ chồng. Cụ đã đề thơ:

Thác không ăn, vợ ép… ăn! ăn!
Từ đây bổn nghệ giao ai lãnh?
Đành để nấm mồ mọc cỏ giăng!
Ví biết lang quân rày đến thế.
Mượn bầu Khương Tử dạ đành chăng?

Tất cả những người có mặt trong đám đều tấm tắc khen ngợi. Người ta thấy tác giả thể hiện quá rõ rệt động tác của các nhân vật qua hai câu 3-4. Thật vậy, bình sinh mỗi lần chồng thèm rượu thì con phiền vợ trách, cắn rứt càu nhàu, nay mất đi, xác bị gói tròn trong áo quan, còn ăn uống gì được nữa, vậy mà vợ lại mời nhạc công, rước lễ sinh, nài ép uống ăn trong các giờ dâng cúng, thôi thì rượu thịt ê hề!

Có nghiên cứu thơ văn của Trần Thới Hanh, người ta mới thấy rằng dù với đề tài nào, lời văn của cụ cũng có vẻ bình dị và ý văn cũng có giọng trêu cợt mỉa mai.

Tuy nhiên, sở trường nhứt của Trần tiên sinh là thơ văn trào phúng. Cụ luôn luôn đàn hặc những “tiểu tật” của mọi người để hy vọng “sửa sai” cho họ và để bảo vệ mỹ tục thuần phong. Tất cả những điều giả trá, những cái rởm, những tục lệ lỗi thời, những mê tín dị đoan mỗi khi xuyên qua mắt, lọt vào tai cụ, đều bị cụ trào lộng bằng những vần thơ, những vở kịch rất mực bình dân nhưng không kém phần dí dỏm kỳ thú, cho dẫu những kẻ “có tật” ấy là hạng có thế lực, tai to mắt lớn.

Ở Tân Châu hầu hết ai ai cũng nghe nói đến bài THƠ HƯƠNG QUẢN RÔ đi gò mèo làm mất xe máy với những câu phá thừa như sau:

Hương thân, Hương sự cũng gò mèo,
Hương Quản ức lòng cũng đuổi theo…

Chữ “cũng gò mèo” đã nói khá rõ ràng Hương Thân, Hương sự là hạng trên vai trên cổ dân, đáng lẽ ra phải giữ gìn tư cách để làm khuôn thước cho xóm làng, thế mà họ lại bất cần, cũng làm cái việc “gò mèo” đó như ai. Rồi đến ông Hương Quản kia, lại không để cho chuyện ai mặc ai, lại ạo ực nôn nả, lại đuổi theo các bạn “đồng sự” để được “đồng tình” cho đến nỗi… mất toi đi chiếc xe đạp.

Thuở ấy tại Tân Châu có một chàng “thanh niên râu”, đội lốt bên ngoài với vóc dáng phù chú của một đạo sĩ, từ núi Két “hạ san” tự xưng là Cậu 107. Cậu khoe mình biết chữa bịnh điên, bịnh tà, có bùa mê ngải độc để rồi mê hoặc những người nhẹ dạ dễ tin. Ở Tân Châu được ít lâu ông ta rù quến được vợ của anh Lôi (do đó “Cậu” có tên Thầy Lôi) rồi dắt vợ anh nầy đi tuốt lên Nam Vang. Ở đây ông ta cũng nhờ giở trò dối thế nên bị lính rượt, phải hốt hoảng chạy về Tân Châu. Tại đây “bổn đạo” của ông ta xúm nhau khóc lóc, tiễn ông về núi Két để lánh mặt kẻ cầm quyền.

Để đả phá tệ đoan mà bao giờ Trần Thới Hanh cũng khinh ghét, cụ mượn cốt chuyện nầy viết ra một vở kịch gọi là “TUỒNG THẦY LÔI”. Đây là một bi hài kịch dài, có màn cảnh, lớp lang, lắm lúc đầy giọng khôi hài, châm biếm, nhiều khi chan chứa nỗi ai oán não nùng.

Nhóm dịch thuật Lightway chuyên cung cấp dịch vụ dịch thuật tài liệu tài chính kế toán

Phan Văn Mười Nhà Thơ Ẩn Dật (1883-1948)

Khắp quận Tân Châu, nhắc đến ông Phan Văn Mười, ai ai cũng đều biết là một nhà nhuộm hàng có danh. Ông cất tiếng chào đời năm Quý Mùi (1883) tại hữu ngạn kinh Vĩnh An Hà. Cha là ông Phan Tấn Dự. Mẹ là bà Nguyễn Thị Yên. Nội tổ ông là quan Phó lãnh binh Phan Tấn Đặng. Xưa song thân ông sanh quán ở xã Tòng Sơn, nay là xã Mỹ An Hưng (Sa Đéc). Vì muốn sanh phương lập nghiệp, nên di gia về xã Long Phú (Tân Châu).

Là con út trong gia đình, bất hạnh mồ côi cha thuở lên 4, đến 12 tuổi, thân mẫu ông cũng qua đời luôn, để ông sống bơ vơ giữa chợ đời khó khăn. Nhưng rất may, ông được người anh hảo tâm họ ngoại là ông Cai tổng Phạm Thăng Bình đem về nuôi cho đi học Hán tự. Năm 17 tuổi, ông thấy đeo đuổi theo cửa Khổng sân Trình gây tốn kém cho anh nên thôi học để tiếp tục giúp anh việc nhà và đồng áng. Vốn hiếu học, ban ngày tuy bận, nhưng đêm đến, ông chuyên cần ôn lại bài vở cũ và đọc sách xem thơ.

Đến năm 23 tuổi, ông lập gia thất. Nối chí thân sinh, ông khuếch trương tiểu công nghệ nhuộm hàng bằng chàm. Nhờ có bộ óc kinh doanh và chí cương quyết cùng với đức cần kiệm, chẳng bao lâu, ông gây được nhiều uy tín, dựng nên một sự nghiệp có thể nói là khá giả vào thời buổi đó.

Duyên nợ văn chương bất ngờ đưa đến, bỗng một hôm có khách viễn phương là ông Lưu Kim Minh, một văn học sĩ nổi tiếng ở Trung Hoa, du lịch sang Việt Nam, chu du đến Tân Châu, ngụ tại nhà chú Hùng, một huê kiều thâm nho có nhà buôn lớn ở chợ Tân Châu và cũng là bạn chí thân của ông Mười. Nhân cơ hội nầy, chú Hùng giới thiệu cho đôi bạn Hoa Việt được quen biết nhau. Qua cuộc bút đàm, đôi bạn trở thành tri kỉ. Sau khi rời khỏi nơi đây, khách tặng ông Mười ba quyển sách sau đây: Bác trạch châu thơ, Huyền vi hợp tuyển, Danh nhơn luận. (Ba quyển sách nầy, hiện nay người con ông vẫn còn giữ).

Sẵn có khiếu thông minh, rồi bắt nguồn từ đó, ông nghiền ngẫm ba quyển sách quý báu đó, ông trở thành một nhà coi ngày cho người địa phương. Sau đó, ông soạn bộ sách gồm việc “Quan, Hôn, Tang, Tế” (bộ sách nầy đến nay vẫn còn). Bút hiệu ông là Trung Dân hay Thập Dân.

Đời ông rất bình dị và phóng khoáng, ông thích giao thiệp với bạn làng văn, uống trà ngon và hút thuốc Cao Lãnh. Món tiêu khiển tạm của ông là chọi gà nòi, và đặc biệt nhứt là “thú gác cu”. Những lúc rảnh rang, ông thường mài miệt vào vườn thi thơ, cao hứng ông vịnh:

HAI BÀ TRƯNG

Nữ nhi nước VIỆT có hai bà,
Đánh đuổi quân Tàu khỏi đất ta.
Hạn đẫm nhung y tròn nợ nước,
Huyết loang kiếm bạc vẹn thù nhà.

Vẻ vang thục nữ vùng Mê Phủ,
Uất hận thuyền quyên ngọn Hát Hà,
Lịch sử ngàn năm còn chói rạng,
Kỳ công oanh liệt của hai Bà

NGÔ VƯƠNG

Vua hùng đất VIỆT đấng Ngô Quyền,
Đỡ vạt nâng thành lúc ngửa nghiêng.
Võ xuất loạn thần tan xác thể,
Mưu bày ngoại tặc tận binh thuyền.

Giao Châu chiến thắng bừng hoan lạc,
Nam Hán bại vong luống hận phiền.
Dân tộc muôn đời còn tưởng niệm,
Vua hùng đất VIỆT đấng Ngô Quyền.

Nhóm dịch thuật Lightway chuyên cung cấp dịch vụ dịch thuật các tài liệu lịch sử, tôn giáo, triết học

Đặng Văn Hanh Nhà Giáo Lão Thành (1867-1931)

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Đã nói đến nhân vật Tân Châu, Tưởng cũng nên nhắc đến nhà giáo lão thành đã hiến trọn đời mình trong việc mở mang dân trí toàn quận Tân Châu: Ông ĐẶNG VĂN HANH.

Sanh trưởng trong một gia đình nho giáo, ngày 18-10-1867 tại làng Phước Thạnh, quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho (Định Tường). Theo đòi nghiên bút, sách đèn ở trường trung học tỉnh nầy.

Năm 1887, ông được bổ nhiệm về trường Tổng Tân Châu 115, với chức Cai Trường (Chargé de l’école) nay gọi Trưởng Giáo. Lúc thi hành nhiệm vụ cao cả, ông nổi tiếng là một nhà giáo đầy đủ lương tâm chức nghiệp. Nhờ đức tính ấy, ông đã đào tạo nên nhiều vị hữu danh như ông Phạm Văn Giai, ông Nguyễn Văn Đệ, ông Đoàn Văn Điện, ông Tống Minh Ngượt, ông Nguyễn Văn Lắm, ông Trần Thành Hỷ, ông Nguyễn Trung Thu, ông Nguyễn Minh Châu…, nhiều vị giáo viên ưu tú và lắm nhơn viên các sở khác.

Từ lúc nhậm chức cho đến khi hồi hưu, ông đã từng giáo hóa con dân quận Tân Châu, nhiều gia đình từ ông cha đến con cái đều là môn đệ của ông. Công nghiệp ấy, dù ngày nay ông đã ra người thiên cổ, người ta vẫn còn nhắc nhở và tỏ ra có nhiều mến tiếc.

VÀI GIAI THOẠI TRONG ĐỜI ÔNG

Ông sống cuộc đời giản dị, bình dân. Tính ông rất thẳng thắn thà cam chịu cảnh nghèo hơn là xu quyền phụ thế. Ông giao thiệp rất rộng rãi, thích những thú vui có tính cách văn chương tao nhã. Thỉnh thoảng, vào tối thứ bảy, ông tổ chức những bữa ăn thân mật, hoặc tại nhà, hoặc tại hàng cơm ở chợ, mời vài vị hương chức và vài bạn thân để siết chặt thâm tình. Nhờ sự ngoại giao khéo léo, ông nắm vững mối liên lạc giữa xã hội và học đường, nhân dân trong quận đều kính mến ông. Ngoài ra, ông có tánh cần kiệm, nhờ vậy ông đủ sức nuôi con cái thành nhơn.

Môn giải trí mà ông thích nhứt là hát bội. Khi xem hát, ông khoái và hãnh diện nhứt là ngồi thủ chầu. Thuở đó có gánh hát bội của ông Đỗ Bá Nhẫn thường hát tại vỏ ca miễu Cô Hồn ở chợ Tân Châu. Vợ bầu Nhẫn là bà Nguyễn Thị Mẹo có biệt tài, vai trò nào bà diễn cũng rất xuất sắc. Giữa lúc cụp lạc quá cao hứng ông chầu quên thôi. Đồng thời trong tay có bao nhiêu quạt, ông thưởng ráo. Bà giáo hay cằn nhằn ông vừa trả tiền mỗi khi đào kép mang quạt có dấu hiệu của ông đến nhà ông lãnh thưởng.

Năm nào cũng vậy, đến mùa nước Cửu Long dâng cao, vào chiều thứ bảy, ông tổ chức cuộc thưởng trăng trên sông. Ông thuê một con đò, đem theo đủ vật liệu nhấm rượu, nhạc khí. Lúc hai giờ chiều, ông cho người chèo đò lên tận biên giới Việt Miên. Đến đây, trời cũng bắt đầu tối, trăng cũng nhô lên ở chân trời. Con thuyền tách bến ra giữa dòng sông, nước lấp lánh trăng, chèo gác mái lênh bênh thả theo dòng nước. Cuộc vui bắt đầu bằng lối vừa đàn, vừa hát, vừa nhâm nhi. Thú biết bao.

Hằng năm, đến kỳ Trung Thu, ông làm rồng cho học sinh biểu diễn quanh chợ. Sau đó thầy trò đồng hội họp lại trường xơi bánh thưởng trăng. Đến rằm tháng bảy, ông đề nghị học trò chung đậu mỗi đứa hai xu (bằng hai đồng bây giờ). Phụ huynh học sinh cũng hưởng ứng hùn tiền mua heo quay cúng ngày xá tội vong nhân cho đúng theo cổ tục. Cúng xong là đến cuộc ăn uống thỏa thích giữa phụ huynh, thầy và trò làm cho tình đoàn kết nơi học đường và xã hội càng thêm khăng khít.

Lương bổng không bao nhiêu, nhưng ông có lòng nhân thường nuôi cơm cho năm ba đứa học trò nghèo, nhà ở xa trường.

LÚC HƯU TRÍ VÀ KHI TỪ TRẦN

Vì đã được cảm tình hầu hết dân Tân Châu, nên đến lúc hồi hưu, ông không về nguyên quán, ông cất một gian nhà lá 3 căn, cột thao lao, nền đất vách lá buôn, cách ngôi trường cũ độ 20 thước ; đó là cả sự nghiệp của nhà giáo lúc về hưu sau mấy mươi năm tận tụy làm việc.

Tuy già, sức khỏe vẫn dồi dào, lúc nghỉ hè ông dạy dỗ thêm hoặc dạy vỡ lòng cho con em mà phụ huynh đã tin cậy gởi gắm cho ông. Ông từ trần vào ngày 13-9-1931, hưởng thọ 64 tuổi, để lại 3 gái và 3 trai, có người nối chí ông đeo đuổi nghề giáo như ông Đặng Văn Mạnh (đã qua đời vào năm 1949 tại Châu Đốc), ông Đặng Văn Mẹo (hồi hưu), cháu ngoại ông là họa sĩ Lê Trung, một họa sĩ nổi tiếng hiện nay ở Việt Nam (xem tiểu sử ông bài 15 cũng trong mục nầy).

Đám táng ông cử hành rất trọng thể, thân hào, nhân sĩ trong quận và rất đông học trò tân cựu, lại có người ở xa bận công vụ cũng xin phép về chịu tang và tiễn đưa ân sư đến chốn yên giấc nghìn thu.

Ngoài số môn đệ ra, còn có phụ huynh học sinh đến tham dự làm cho đám táng ông thêm phần long trọng. Từ lúc sanh tiền đến khi tạ thế, ông là nhà giáo đắc nhân tâm, nên lúc ông quá vãng, dù không quen biết, nhưng nhân dân vẫn cảm mến đức độ ông, đến phúng điếu và chia buồn cùng tang gia.

Hiện nay, phần mộ ông bà tọa lạc nơi phần đất ông Đặng Văn Thủ (qua đời), người đồng tộc với ông, thuộc ấp Long Hưng, xã Long Phú, cạnh bên tả con đường Tân Châu – Kinh Xáng xã Tân An cách quận lỵ độ trên một cây số.

Phan Hữu Dư Đông Y Sĩ

Người xã Vĩnh Hòa, tục danh “Thầy Mười Dư”, vì ông thứ mười. Sanh năm 1872 trong một gia đình Phật Khổng. Cha là ông Phan Trung Hòa. Mẹ là bà Nguyễn Thị Lời.

Thuở thiếu niên, ông học tại gia với huynh trưởng là ông Phan Thành Tựu, một danh y nổi tiếng khắp quận nhà. Đến 17 tuổi, ông học thêm 4 năm chữ Nho với ông Phạm Văn Điệu, người xã Long Phú, làm nghề đông y cũng khá giỏi.

Là người có tinh thần cầu tiến, sau đó ông đến xã Phú Thuận xin học với Tú tài Trần Hữu Thường. Vừa được hai năm say mê theo đòi nghiên bút, chẳng may thân mẫu ông lâm trọng bịnh rồi từ trần. Ông ngậm ngùi từ giã thầy, xa bạn về cư tang đái hiếu. Khi mãn tang, vào năm 26 tuổi, ông làm lễ thành hôn với bà Nguyễn Thị Chiếm, ái nữ ông Hương lễ Nguyễn Văn Thới, người xã Tân An.

Lúc bấy giờ, bờ sông Tiền liên quan đến xã Vĩnh Hòa, thường năm bị nạn đất lở rất nguy hiểm, ông dời gia đình về quê vợ. Nơi đây, nối chí thân sinh, ông vừa bán thuốc bắc, vừa hành nghề đông y.

Ngoài sự tận tâm với nghề nghiệp, ông được hầu hết người trong thôn kính trọng bởi đức tánh thuần hậu, khiêm tốn và vui vẻ. Nhận thấy ông là một nho gia phẩm hạnh, nên Ban Trị Sự làng Tân An đồng công cử ông làm chức Hương Lễ.

Những lúc rảnh rang và cao hứng, ông mời các bạn tâm đầu ý hiệp đến nhà để bàn luận văn chương và tìm hiểu đạo lý cao siêu của thánh hiền. Đã vậy, vào năm 1930-1936, có nhà chí sĩ Nguyễn Quang Diêu, người Cao Lãnh, đến xã Vĩnh Hòa mở trường dạy học. Vì ái mộ tài đức của nhà cách mạng nầy, nên ông mời về ở tại gia trong sáu tháng để người chỉ dẫn thi phú.

Trải qua 10 năm ly loạn (1945-1954), ông cùng gia quyến tản cư xuống chợ Tân Châu. Khi an ninh và trật tự lần lần được vãn hồi, ông hồi cư mua đất lập vườn để hưởng thú điền viên, nhưng vẫn giữ nghề cũ. Hiện gia cư ông ở tại cái vịnh, cách kinh xáng xã Tân An độ 500 thước. Vì vậy, người địa phương đặt cái vịnh đó là “Vịnh Thầy Mười Dư” nên thành danh. Nguyên phối ông thất lộc có trên 10 năm, nhưng ông không tục huyền, vẫn ở vậy sớm chiều với cháu con.

Bình sinh, ông tiêu khiển bằng lối trau giồi thi thơ. Thơ ông tuy không hay lắm, nhưng lời thơ có vẻ chơn thật. Để chứng tỏ ông là người mến thơ, xin tạm trích trong tập thơ ông vài bài dưới đây:

ĐIẾU CỤ NGUYỄN QUANG DIÊU

Tin phó nghe qua rất khủng hoàng,
Dạ đài rằng cụ Nguyễn chơi sang.
Hiển u ai đó đành chia ngả,
Trắc ẩn lòng đây cảm khó hàn.

Đạo đức lòng nghe rày vắng tiếng,
Dạng hình tưởng nhớ xót thầm gan.
Phải chi quỉ bá lòng thương đến,
Ngàn lượng kim ngân tớ chẳng màng.

THƠ ĐƯA BẠN

Tiểu hồi chạnh nhớ lúc tàu xô,
Đại hả thương người tựa gối cô.
Ngàn dặm xuyên sơn tuy cách trở,
Một lòng thủy thạch dám ra vô.

Tháp trần nguyện thỏa tình cam tất,
Nền hạnh hằng chờ hạng thủ ô.
Bá hiệp ngày nào cho đặng toại,
Thung dung khách chủ nói cười rô.

Lục Văn Thu “Nhà Thơ Móc”

Bút hiệu “U THÔNG”, sanh năm 1905 tại Thủ Dầu Một (Bình Dương) ; con ông Lục Văn Thông và bà Trương Thị Còn. Sau khi học hết bực tiểu học ở tỉnh nhà, ông xin vào Sở Giáo Huấn. Sau đó, ông được bổ nhiệm về Châu Đốc, dạy tại trường Sơ Cấp Phú Lâm (1924-1927), trường Thạnh Mỹ Tây (1927-1931). Xin trở về quê hương năm 1932. Xin thuyên chuyển trở lại Châu Đốc, dạy tại trường Phú An (1932-1936), trường Khánh An (1936-1946), trường Phú Thuận (1946-1947), trường tiểu học Tân Châu (1947-1960). Nơi đây, chính là cái trạm chót trong đời “gõ đầu trẻ” của ông.

Lúc hưu trí, không về nguyên quán, ông cùng gia quyến ở luôn lại xứ “Tầm Dâu”. Hồi còn dạy học cũng như nghỉ việc, thỉnh thoảng ông giải trí bằng lối học làm thơ Đường. Nhưng ông có lối thơ “gai gốc”, vì đó các bạn đồng nghiệp ở Tân Châu gán cho ông cái biệt danh là “nhà thơ móc”. Để cống hiến bạn đọc, xin tạm trích trong “tập thơ móc” của ông, mấy bài sau đây:

XÂM LĂNG NGUYỆT CẦU

Cung Quảng từ nay khó ở yên,
Người trần quyết đến mở đồn điền.
Nga Sô định viếng trong vòng Tết,
Mỹ Quốc toan thăm lối cuối Giêng.

Khoa học khinh lờn quyền tạo hóa,
Văn minh coi nhẹ phép thần tiên.
Tranh nhau hay dở lên trên ấy,
Dưới đất chúng em đỡ lụy phiền!

GHẸO NGUYỆT

Hằng Nga đã đẹp lại không già,
Nên được người đời mến thiết tha.
Mỹ quốc nhờ mai trao sính lễ,
Nga Sô cậy mối kết thông gia.

Hai ông ở rể trời xanh mặt,
Một mụ làm dâu đất ớn đa.
Em út cõi trần van chị Nguyệt,
Đừng ưng ông Mỹ lẫn ông Nga

Đỗ Bá Nhẫn – Bầu Hát Bội

Người xã Tân An, một thôn ở giữa làng Long Phú và Vĩnh Xương, thuộc quận Tân Châu. Sau khi được một số vốn nho học khá giỏi và sẵn có dòng máu hát xướng, ông gia nhập vào làng hia mão. Nối chí thân sinh là ông bầu Quyền, ông đứng ra lập một gánh hát bội mệnh danh là “KIM THÀNH BAN”, tục thường gọi là gánh “BẦU CHÍN NHÃN” vì ông thứ chín. Đó là ban hát bội đã vang bóng một thời, do những đào kép hữu tài sau đây, thường trực hát ở các chợ quận cùng hát chầu hàng năm nơi đình miễu trong tỉnh, và đã từng lưu diễn khắp miền Nam Kỳ.

Ông có dáng người mảnh khảnh cao ráo. Trong các tuồng hát, ông không đóng vai chánh đặc biệt, vì giọng hát của ông ít hấp dẫn. Thỉnh thoảng ông chỉ lãnh vai khiêm nhượng là “làm hề”. Mà với vai nầy, ông linh động biểu diễn rất xuất sắc và duyên dáng. Mỗi lần khoát màn ra sân khấu trình diễn, dưới ánh đèn măng xông tỏ rạng, với một bộ điệu tự nhiên và quá điêu luyện, như quái kiệt Ba Vân, ông chọc khán giả cười nôn ruột từng chập làm vang dội hí trường.

Đã vậy, ông còn có biệt tài nhớ dai truyện Tàu, cho nên lắm người muốn thưởng thức và đợi lúc ông cao hứng, họ yêu cầu ông kể lại vài lớp hay nhứt trong bộ Tam Quốc như trận “Xích Bích Áo Môn”, “Thiệt Chiến Quần Nho”. Tựa nhà truyền giáo, ông tường thuật thao thao bất tuyệt mà không hề sai lệch một chi tiết nhỏ nhặt nào. Hay hơn nữa, ông còn thêm nhưn thêm nhị làm ai ai ngồi chăm chỉ nghe cũng đều thích thú vô cùng.

Ngoài chức bầu hát ra, ông còn kiêm cả hai nhiệm vụ: Soạn giả 131 và đạo diễn. Trải qua bao năm góp nhặt kinh nghiệm và sẵn vốn thiên tư, ông hướng dẫn đào kép rất có căn bản: “từ cử chỉ của mỗi vai tuồng: trung, nịnh, đào kép chánh, vai phụ, cách biểu lộ về hỉ nộ ái ố đến lối cầm roi lên ngựa và múa hát theo nhịp nhàng của âm nhạc, thảy đều đúng điệu nhà nghề, không chỗ nào chê được”. Bởi vậy đàn em út kính trọng suy tôn ông là “HẬU TỔ” hát bội.

Đã có chánh thê, nhưng trong thời lưu diễn đó đây, ông thường để mắt xanh đến cô đào khả ái. Đó là bà Nguyễn Thị Mẹo. Thế rồi, gái sắc trai tài trở thành đôi uyên ương, sát cánh sống chung hạnh phúc và vẻ vang trên đường sự nghiệp. Chính bầu Nhẫn đã đem hết khả năng mình để rèn luyện bổ túc nghệ thuật sân khấu cho bà thứ. Nhờ đó, bà bầu nhì vượt lên cô đào ưu hạng, danh tiếng lẫy lừng và cũng đã từng làm rơi lệ thính giả thuở xa xôi ấy.

Là cô đào chánh của đại ban, bà Mẹo thường thủ những vai đặc biệt sau đây: Bà Nguyệt Kiều đi tu, Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, vợ Ngũ Vân Thiệu bị tên, Điêu Thuyền thi hành liên hườn kế của Vương Tư Đồ, Mạnh Lệ Quân chẩn mạch Đông Bình Vương… Sở dĩ, bà thành công rực rỡ trên các vai tuồng khó khăn đó, vì giọng hát của bà rất trong trẻo, thảnh thót, trầm ngâm và truyền cảm. Mỗi vai, dù vui hay buồn đều được bà lột hết tinh thần để diễn xuất một cách tuyệt vời. Mục đích qua nhiều lớp tuồng quá bi ai của bà, khán giả không phân biệt nam nữ đều sụt sùi khóc theo rấm ra, rấm rút. Hát đã hay mà sắc cũng có, nên bà được đời khen ngợi là một cô đào “thinh sắc lưỡng toàn”.

Ngoài bà Mẹo ra, bầu Nhẫn còn đào tạo cho toàn ban được nhiều kép đồng đều và hữu hạng, nhưng nổi bật nhất là Đỗ Văn Tiên tức Mười Tiên (qua đời năm 1947) và Đỗ Văn Chơi. Hai kép tài danh nầy là người trong thân tộc ông, và đều lộ một thân hình tròn trịa như nhau, cao độ một thước sáu. Đó là đôi nghệ sĩ được giới mộ điệu mến tặng là “kép độc và đẹp trai”.

Là kép chánh, Mười Tiên thường diễn những vai: Lữ Bố hí Điêu Thuyền, Thái Sư Văn Trọng gián thập điều vua Trụ, Cao Hoài Đức điên, Tiết Đinh San nhứt bộ nhứt bái lên Hàng Giang quan cầu Phàn Lê Huê, Tiết Giao đoạt ngọc, Tạ Ôn Đình làm phản, Trương Phi nơi Cổ Thành, tống tửu Đơn Hùng Tín, Tào Tháo nơi Huê Dung đạo…

Xuyên qua những vai tuồng hết sức khó khăn đó mà ông được thành công mỹ mãn là nhờ ông có bộ tịch quá điêu luyện, một giọng hát phong phú và nhứt là có đôi mắt trời ban “một cặp mắt lộ hi hữu”, khi biểu diễn đảo lộn như viên ngọc lăn tròn, bộc lộ cả khí phách hiên ngang của một vũ tướng khét tiếng thời xưa. Bao nhiêu cái đặc sắc đó hợp lại trong người ông đã giúp ông thành một nghệ sĩ trứ danh.

Còn kép Tư Chơi mà thủ vai Quan Công phò Nhị Tẩu, Quan Công xem binh thơ, là lúc vua Trụ mê Đắc Kỷ, vua Tống Nhơn Tôn khóc Bàng Quí Phi, Triệu Khuông Dẫn bị Hàng Tố Mai phục rượu… thì được khán giả khen nức nở. Được thế là nhờ ông có một bộ tịch trầm tĩnh, một giọng hát dư hơi như chuông đồng, nhờ cái vuốt râu đầy nghệ thuật và những nụ cười rất tế nhị. Tất cả những cử chỉ lắm công phu đó đã làm cho ông sáng chói trên sân khấu. Khán giả ngồi thưởng thức đều cảm khoái và say mê.

Trong thời xa xôi đó, hễ gánh “Kim Thành Ban” mà lưu diễn đến một địa hạt nào thì rạp hát không chỗ chứa khán giả. Và nhứt là gặp đêm Bà Mẹo và Mười Tiên đóng tuồng cặp diễn qua lớp “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”. Đó là lớp cụp lạc và cũng là một lớp tuồng gay cấn nhứt trong bộ Tam Quốc mà các đại ban cải lương hay hát bội danh tiếng hiện nay thường diễn đi diễn lại song cũng còn đông khách.

Giữa giây phút kích động thần kinh nầy, cả hí viện dường như muốn nghẹt thở và lòng mọi người đều hồi hộp đến cực độ để ngầm tận hưởng tài nghệ phi thường của đôi trai tài gái sắc đó đang thao túng trên sân khấu chẳng khác nào Bảy Nhiêu và cố nữ nghệ sĩ Năm Phỉ bên cải lương đóng vai mùi vậy. Bấy giờ, để tán thưởng đôi nhân tình giả ấy đang diễn quá hấp dẫn và mê ly, tiếng trống chầu nổi lên liên hồi, xen lẫn với tiếng hít hà chắc lưỡi, hòa cùng những tràng pháo tay làm náo động cả hí trường.

Sở dĩ, gánh Kim Thành Ban mà còn lưu lại tiếng tăm khắp miền Tây Nam Việt cho đến ngày hôm nay, là do tài khéo lèo lái và đạo diễn của bầu Nhẫn và nhờ nhứt là ba nam nữ nghệ sĩ thượng thặng trời dành trên đây: Bà Mẹo, Mười Tiên, Tư Chơi.

Thời gian cứ bình thản trôi qua, nay đốt nén hương lòng, ôn lại thành tích đào tạo nam nữ nghệ sĩ tài danh của Bầu Nhẫn, một ông Nhưn trứ danh nơi quận biên thùy, đã tận tụy phục vụ cả đời người cho nghệ thuật sân khấu hát bội, làm ngậm ngùi các bực kỳ lão còn sống sót ở địa phương.

Hiện nay, ở xã Tân An, con cháu Bầu Nhẫn có cất am thờ “Ông Tổ hát bội”. Hằng năm thân nhân ông đều cúng tế theo cổ tục để tưởng niệm người xưa.

Nữ Nghệ Sĩ Nguyệt Yến – Cô Đào Vang Bóng Một Thời

Tên thật là Trần Thị Cở, tục danh “Cô Ba Cở”, sanh năm 1918, tại châu thành Tân Châu. Nhà nghèo, sau khi học hết chương trình Sơ cấp nơi trường Tiểu Học Bổ Túc ở quận nhà, cô xin thôi để giúp đỡ gia đình, nhứt là chăm nom em út.

Sở dĩ, cô trở thành nghệ sĩ cải lương là nhờ ba yếu tố căn bản sau đây:

– Tuy còn để chỏm nhưng đã thâm nhiễm thú cầm ca, thân phụ cô là ông Trần Văn Cho, trước kia nhà ở sát bên cạnh “Thanh Phong Hí Viện” Tân Châu.

– Nhờ có giọng ca truyền cảm, nên mỗi lần đưa em, cô nhái theo các nữ danh ca trong dĩa hát, với một giọng thảnh thót du dương làm cho bao nhiêu người cùng xóm đều tấm tắc khen thầm.

– Do làn hơi thiên phú đó, cô lọt vào mắt xanh của anh Mai Xuân Thơi, thợ hớt tóc rất mỹ thuật cùng biết mùi đờn kìm khá giỏi ở chợ địa phương để ý, thân mật kêu lại nhà bền chí dẫn dắt điệu ca giọng cổ với nhịp nhàng vững chắc và luôn luôn khuyến khích.

Vào thời buổi đó, tuy làn sóng cải lương đã lan tràn khắp miền Nam Kỳ, được khán giả ái mộ thưởng thức, nhưng có một số người tồn cổ hẹp hòi quan niệm rằng “xướng ca vô loại”. Thấy đời lên án gắt gao nghề hát xướng, nên thân phụ cô thường nghiêm cấm. Song đã trót mang cái nghiệp vào thân, năm 17 tuổi, tức năm 1935 cô trốn theo gánh hát bội kiêm cải lương của Bầu Bòn, một ban hát danh tiếng khắp lục tỉnh.

Mãi đến năm 21 tuổi cô mới thành nghề. Rồi bắt đầu từ đó, cô xin gia nhập vào các kịch đoàn: Hữu Thành, Chấn Hưng, Sao Mai… Lúc bấy giờ, tuy có thinh lẫn sắc, nhưng cô chưa nổi danh cho lắm vì cô chỉ thủ vai phụ hay nữ tỳ. Mà với các vai nầy, cô có biệt tài diễn xuất sáng chói trên sân khấu, làm cho ông bầu cùng nam nữ đồng nghiệp và khán giả đều khen ngợi là một cô đào trẻ mang nhiều triển vọng.

Danh từ Nguyệt Yến chào đời

Đến khi nhập tịch vào kịch đoàn Mộng Vân, ông bầu gánh nầy mới khai sanh cho cô một danh từ mà đời thường nhắc nhở. Đó là nữ nghệ sĩ “NGUYỆT YẾN”. Mang cái tên khá hấp dẫn nầy, cô lên hương là một cô đào chánh thiệt thọ được khách sành điệu ái mộ.

Có chí lập nghiệp, năm 1955, cô đứng ra tạo một kịch đoàn mệnh danh là “PHÁT THANH”. Bấy giờ, gánh hát cô thường lưu diễn khắp nơi: Nam Vang, miền Nam và miền Trung. Đi đến chỗ nào, cô cũng được khán giả ở đó nhiệt liệt hoan nghinh.

Đến năm 1960, vì nội bộ lủng củng về tài chính, nên cô buộc lòng sang bảng hiệu nầy cho người khác. Qua năm 1961, cô tái lập một kịch đoàn mới mang tên cô là “NGUYỆT YẾN”. Từ đó đến năm 1963, sân khấu độc quyền của cô là miền Trung. Nơi đây, tại Ba Tơ, một quận có nhiều nhứt là đồng bào Thượng, thuộc tỉnh Quãng Ngãi, đoàn hát cô không may gặp nhiều khó khăn do thời cuộc thay đổi. Những đêm nghỉ hát, mức sống của nam nữ nghệ sĩ thật chật vật. Đã vậy, chồng cô là Huỳnh Văn Tâm, tức nghệ sĩ Thiện Tâm tục gọi bầu Ba Tẹt, bất ngờ lâm trọng bịnh, rồi trút linh hồn ở đó. Người yêu chết, trong túi không tiền, nhưng cô vận động hết khả năng ôm quan tài chồng khóc nức nở suốt cả nghìn cây số từ Ba Tơ về Sài Gòn.

Đầu năm 1964, đoàn hát cô tan rã. Sự nghiệp cô hoàn không. Mặc dù, đời nghệ sĩ Nguyệt Yến đương đầu nhiều cuộc thử thách gian lao và chẳng may mắn trên đường sự nghiệp, nhưng tên tuổi cô vẫn không phai mờ trong làng kịch nghệ miền Nam. Vì trải qua lắm vai đặc sắc, cô nổi bật nhứt là vai “Nữ Thần trong Động lửa”, một vai tuồng hết sức khó khăn mà cô xuất thần trình diễn, chẳng những được khách mộ điệu khen ngợi nức nở, mà các ký giả Thủ đô còn đề cao trên mặt báo chí nữa. Với vai tuồng nầy, sau có vài cô đào diễn lại nhưng không bằng cô, nên cô được đời mến tặng là “NỮ THẦN NGUYỆT YẾN”.

Soạn giả Thái Thụy Phong

Tên thật là Thái Văn Bì, sanh năm 1921 tại kinh Vĩnh An Hà xã Long Phú (Tân Châu). Cha là ông Võ Thạch Ngạn. Mẹ là bà Thái Thị Bướm. Chú ruột là ông Võ An Hà, một đông y sĩ danh tiếng ở quận nhà.

Lúc ấu xuân, ông theo đòi nghiên bút tại trường Tiểu Học Bổ Túc chủ quận lỵ. Năm 1934, ông đỗ Văn Bằng Sơ Học và tự học thêm hai năm chương trình Trung Học. Năm 1940, vì sinh kế ông lên Nam Vang, kinh đô Miên Quốc, làm nghề “gõ đầu trẻ”. Năm 1945, ông về Sài Gòn cũng với nghề dạy học.

Thuở còn đi học, ông đã có khiếu về âm nhạc. Nhờ đó, bắt đầu từ năm 1950, để phục vụ văn nghệ sân khấu cải lương, ông nổi danh khắp miền Nam là một soạn giả được nhiều người ái mộ. Dưới đây là sự hoạt động về kịch trường của ông:

Trên Địa Hạt Dĩa Hát

HÃNG DĨA THĂNG LONG: Tuồng “Muôn dặm tìm chồng”

HÃNG DĨA NAM PHƯƠNG: Tuồng “Bạch Viên Tôn Các”

HÃNG DĨA LAM SƠN: Tuồng “Sầu vương đáy mộ”

HÃNG DĨA ASIA: Tuồng “Non tình biển hẹn” (Chuyện Sơn tinh – Thủy tinh)

HÃNG DĨA VIỆT HẢI: Tuồng “Đường ra ải Bắc”, Tuồng “Lá huyết thư”

HÃNG DĨA HOÀNH SƠN: Bản Vọng Cổ “Sầu Vương Biên Ải” (Ký tên Huyền Hương), Tuồng “Ngày về cổ quận”, Tuồng “Trường Hận” (Dương Quí Phi)

Hai soạn phẩm xuất sắc trên sân khấu

Năm 1958, trên sân khấu “THÚY NGA”, vở dã sử cận đại “CON ĐÒ THỦ THIÊM” (hợp soạn với Kiên Giang).

Năm 1962, trên sân khấu “THANH MINH THANH NGA”, vở xã hội “HAI CHUYẾN XE HOA”, một soạn phẩm rất hạp với thị hiếu của khán giả bình dân, vì có nhiều tình tiết éo le gây nhiều pha gay cấn, nên mỗi lần vở tuồng nầy mà được Đại Ban Thanh Minh Thanh Nga tái diễn thì lúc nào cũng lôi cuốn một số khán giả kỷ lục. Đã vậy, nó còn được ghi âm, thường do đài Sài Gòn và đài Ba Xuyên phát thanh hàng tháng, làm cho thính giả mở máy thu thanh nghe đều thích thú vô cùng.

Hai chuyến xe hoa trên Địa Hạt Điện Ảnh

Trong đời Thái Thụy Phong thành công mỹ mãn nhứt là vở xã hội “HAI CHUYẾN XE HOA”. Cho nên soạn phẩm lắm công phu và ăn khách đó được điện ảnh gia thoàn Hoàn Anh Tuấn thương lượng với soạn giả để thực hiện màn bạc thành cuốn phim “HAI CHUYẾN XE HOA” và đã chiếu khắp Thủ Đô cùng các tỉnh miền Nam.

Họa Sĩ Lê Trung

Tên thật là Lê Toàn Trung sinh ngày 6-10-1919 tại xã Long Phú, quận Tân Châu (Châu Đốc) trong một gia đình lễ giáo. Bên nội, mấy đời làm quan Triều đình nhà Nguyễn. Thân phụ là ông Lê Quang Hòa, không thích làm việc cho Pháp, chỉ lo việc thương mãi và tham gia một đảng cách mạng chống thực dân. Bên ngoại cũng dòng dõi thế phiệt và theo nghiệp quan trường, một phần lớn theo ngành giáo huấn. Ngoại tổ của ông Lê Trung là cụ Đốc Học Đặng Văn Hanh, tại quận Tân Châu ai ai cũng kính mến.

Từ thuở bé, ông đã có khiếu về hội họa. Ông được các thầy dạy vẽ (Maitre de dessin) yêu mến và hết lòng chỉ dạy.

Sau khi tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Gia Định, ông thi đỗ luôn vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương tại Hà Nội. Tiếng là Đại học Hà Nội, nhưng phần nhiều chỉ là dự thính (Auditeur libre) chớ ít khi có sinh viên chính thức, vì mỗi năm chỉ đậu một vài người mà thôi (Thi nhiều khoa chuyên môn và một bài dissertation littéraire). Ông là sinh viên người Nam duy nhất đỗ đầu trong cuộc thi tuyển gian lao và chính thức năm 1933. Năm ấy chỉ đậu có hai người (Nam Kỳ), còn Trung Kỳ, Cao Miên và Ai Lao đều rớt cả.

Sau mấy năm dạy nhiều trường, ông mở một xưởng vẽ lớn và một lớp dạy riêng hội họa thực hành. Ông đã đào tạo được một số môn đệ tài tử và chuyên nghiệp gồm nhiều quốc tịch như Pháp, Ấn Độ, Mỹ, Trung Hoa và Việt Nam tỏ ra có tài với nhiều triển vọng tốt đẹp.

Họa sĩ Lê Trung sở trường nhiều khoa vẽ như phấn tiên (Pastel), sơn dầu (peinture à l’huile), thái thủy hạ (Aquarelle), bút sắt (Plume) v.v… Ông điêu luyện nhất về khoa Thái thủy họa là khoa vẽ rất khó khăn mà các họa sĩ trên thế giới đều bó tay. Môn nầy ai vẽ cũng được nhưng kể về xuất sắc thì chẳng có mấy ai. Một phóng viên báo Mỹ và cũng là một họa sĩ đã từng thốt lời thán phục tài ông trước một số đông quan khách và họa sĩ trong cuộc triển lãm: “Tôi đã đi khắp các nước trên thế giới và đã từng gặp nhiều họa sĩ chuyên Thái Thủy Họa tài ba, nhưng bản lĩnh cao độ như ông Lê Trung tôi đếm không quá hai bàn tay!”. Sự nhận xét nầy khiến ông Trưởng Ban Tổ Chức Văn Hóa Á châu rất lấy làm hãnh diện.

Ông đã được Ban Tổ chức nhiều cuộc triển lãm Quốc tế mời tham dự: Bá Lê (Paris), Ý (Rome), Nhựt (Tokyo), Đức (Munic), Mỹ (Washington), Cam Bốt, Mã Lai v.v… Ông đã chiếm giải danh dự đem thành công vẻ vang cho nước nhà.

Ông là cộng sự viên chuyên lo trang hoàng tập san “Sud Est Asiatique” của Pháp từ 1948-1954. Ông là một trong các họa sĩ lão thành có công bồi đắp thêm cho nền hội họa nước nhà ngày càng thêm phong phú, vững chãi, ngang hàng với hội họa của các nước tiên tiến. Ông cũng có chơn trong nhóm anh em sáng lập ra “NGHIỆP ĐOÀN HỘI HỌA NAM VIỆT” và nay đổi là “NGHIỆP ĐOÀN HỘI HỌA VIỆT NAM”.

Ông rất tận tụy với nghệ thuật cao quý của ông. Lúc nào ông cũng cố gắng tìm tòi cái mới lạ cho nghệ thuật đã già dặn càng thêm tinh vi phong phú. Hiện ông sống với gia đình trong một ngôi nhà kiểu biệt thự xinh xắn ở nơi yên tĩnh vùng Gia Định và một xưởng vẽ rộng rãi, thanh lịch để làm việc và tiếp rước thân chủ. Hiện ông đang sưu tầm tài liệu chính xác để sáng tác nhiều bức họa lịch sử như: “TRẬN ĐỐNG ĐA, TRẬN BẠCH ĐẰNG, HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG” v.v… hầu lưu lại hậu thế.

Ông rất nổi tiếng về khoa vẽ truyền thần (kiểu mẫu sống). Ông đã vẽ rất nhiều chơn dung của những nhân vật quan trọng, các nhà tai mắt, chánh khách danh tiếng, văn nghệ sĩ, thương gia người ngoại quốc và người Việt Nam. Tất cả đều ái mộ ông. Đồng thời, ông còn vẽ giúp cho những nhà xuất bản, báo chí, truyện lịch sử, truyện cổ tích nhi đồng v.v… Tuy bận nhiều việc, ông cũng nhín thì giờ lo sáng tác nhiều họa phẩm có giá trị để dành trưng bày trong những cuộc triển lãm.

4.9/5 - (183 votes)
CHIA SẺ